Business

a

From our Blog

Hiển thị các bài đăng có nhãn tin quân sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tin quân sự. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2016

Triều Tiên mô phỏng thành công đầu đạn hạt nhân quay lại khí quyển

Triều Tiên mô phỏng thành công đầu đạn hạt nhân quay lại khí quyển
Triều Tiên mô phỏng thành công đầu đạn hạt nhân quay lại khí quyển

AFP đưa tin ngày 15/3, Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-Un cho biết nước này đã thử thành công trong phòng thí nghiệm về khả năng quay trở lại khí quyển của đầu đạn hạt nhân, sau khi tuyên bố Bình Nhưỡng sẽ thử đầu đạn hạt nhân và tên lửa đạn đạo trong thời gian tới.

Hãng thông tấn KCNA cho biết ông Kim Jong-Un trước đó đã ra lệnh tiến hành mô phỏng để đánh giá mức độ ổn định nhiệt của đầu đạn lắp ở đầu của tên lửa, được thiết kế và sản xuất bằng các nỗ lực và công nghệ trong nước, cũng như mức độ mòn của nguyên liệu phủ chống nhiệt.

KCNA cũng đưa tin “ông Kim Jong-Un tuyên bố rằng việc thử kích nổ đầu đạn hạt nhân và phóng nhiều loại tên lửa đạn đạo có thể mang đầu đạn hạt nhân sẽ sớm được thực hiện, nhằm tăng cường hơn nữa độ tin cậy của khả năng tấn công hạt nhân.

Đích thân nhà lãnh đạo đã chỉ thị các cơ quan liên quan chuẩn bị cho việc này đến tận chi tiết cuối cùng.”

Nếu được kiểm chứng, khả năng chế tạo một đầu đạn có thể chịu được nhiệt độ cao và chấn động mạnh trong quá trình quay trở lại khí quyển sẽ là một bước tiến quan trọng trong năng lực tấn công hạt nhân của Triều Tiên, đồng thời là mối đe dọa rõ rệt đối với lục địa Mỹ.

Triều Tiên mô phỏng thành công đầu đạn hạt nhân quay lại khí quyển
Triều Tiên mô phỏng thành công đầu đạn hạt nhân quay lại khí quyển

AFP đưa tin ngày 15/3, Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-Un cho biết nước này đã thử thành công trong phòng thí nghiệm về khả năng quay trở lại khí quyển của đầu đạn hạt nhân, sau khi tuyên bố Bình Nhưỡng sẽ thử đầu đạn hạt nhân và tên lửa đạn đạo trong thời gian tới.

Hãng thông tấn KCNA cho biết ông Kim Jong-Un trước đó đã ra lệnh tiến hành mô phỏng để đánh giá mức độ ổn định nhiệt của đầu đạn lắp ở đầu của tên lửa, được thiết kế và sản xuất bằng các nỗ lực và công nghệ trong nước, cũng như mức độ mòn của nguyên liệu phủ chống nhiệt.

KCNA cũng đưa tin “ông Kim Jong-Un tuyên bố rằng việc thử kích nổ đầu đạn hạt nhân và phóng nhiều loại tên lửa đạn đạo có thể mang đầu đạn hạt nhân sẽ sớm được thực hiện, nhằm tăng cường hơn nữa độ tin cậy của khả năng tấn công hạt nhân.

Đích thân nhà lãnh đạo đã chỉ thị các cơ quan liên quan chuẩn bị cho việc này đến tận chi tiết cuối cùng.”

Nếu được kiểm chứng, khả năng chế tạo một đầu đạn có thể chịu được nhiệt độ cao và chấn động mạnh trong quá trình quay trở lại khí quyển sẽ là một bước tiến quan trọng trong năng lực tấn công hạt nhân của Triều Tiên, đồng thời là mối đe dọa rõ rệt đối với lục địa Mỹ.

Bộ đội tên lửa VN: "Khai thụt học vấn" khi đi học ở nước ngoài!

Bộ đội tên lửa VN: "Khai thụt học vấn" khi đi học ở nước ngoài!
Bộ đội tên lửa VN: "Khai thụt học vấn" khi đi học ở nước ngoài!

Đại tá Lakisev - Trưởng Trung tâm huấn luyện Sitentrai, nói: "Tôi xin nói trước, để làm chủ vũ khí khí tài tên lửa hiện đại này, các bạn phải mất ít nhất 18 tháng".

Khai thụt học vấn

Vừa xa giảng đường đại học, nhập ngũ chưa lâu, tháng 7 năm 1972, khoảng 400 tân binh gốc là sinh viên các Trường Đại học tại Hà Nội đã tham gia cuộc “hành binh” đặc biệt, bằng tàu hỏa liên vận quốc tế xuyên Á-Âu.

Đoàn tàu chạy từ Việt Nam qua ngả Bằng Tường - Vũ Hán - Thiên Tân - Hắc Long Giang - Zabaikan - Omxco - Volgagrat... có mặt tại căn cứ quân sự ngoại vi Thủ đô Baku nước CH Azerbaijan.

Liên Xô khi đó còn là mùa Hè. Họ sang đây để chuyển loại tên lửa phòng không thế hệ mới, do Liên Xô viện trợ.

Số sinh viên này nằm trong nguồn binh lực “để giành” của Việt Nam, được “xuất ra” nhập ngũ đợt này, dự kiến đưa vào tham chiến giữa những tháng năm đối kháng cam go, ác liệt với Không quân Mỹ.

Khi đó Chính quyền Nixon vừa thay chiến thuật “leo thang chiến tranh” thành thủ đoạn đánh ồ ạt thẳng vào Hà Nội, Hải Phòng, gây sức ép Việt Nam... hòng “Đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”.

 Tác giả bài viết - Đại tá Trần Danh Bảng, nguyên học viên tên lửa Việt Nam tham gia chuyển loại tên lửa SAM-3 ở Liên Xô. Ảnh: Trần Danh Bảng.

Tác giả bài viết - Đại tá Trần Danh Bảng, nguyên học viên tên lửa Việt Nam tham gia chuyển loại tên lửa SAM-3 ở Liên Xô. Ảnh: Trần Danh Bảng.

Tại căn cứ tên lửa Sitentrai, thị trấn Zưc, bên bờ Vịnh Baku, ngay khi đặt chân tới, cán bộ chiến sĩ (khung) hai trung đoàn tên lửa là 276 và 277 được phát bộ đồ tập trận màu vàng đất sa mạc, ống quần thắt túm, mũ vải rộng vành để tránh nắng.

Họ còn được trang bị giày “trâu” để leo trèo chắc chắn. Tất cả tư trang xi-vin Á Đông lúc này được cất trong kho, chờ ngày trở về. Họ lạ lẫm với vùng đất mà không gian luôn sực mùi dầu thô, những bản nhạc trên loa mang giai điệu dân ca đạo hồi phát suốt ngày.

Mặt biển Caspien luôn có váng dầu, ánh lên bảy sắc cầu vồng... Chỉ vài ngày sau, các cựu sinh viên đã được nhìn thấy bệ phóng tên lửa S-125 (SAM-3) với hai trái đạn uy nghi trên bệ. Nó còn có tên là Pechora, tên một con sông phía bắc nước Nga.

Họ sẽ học lý thuyết và thực hành khai thác hệ thống tên lửa này trong nhiều tháng. Nghe nói, S-125 tầm bắn gần hơn Dvina S-75 (SAM-2) ở trong nước. Nhưng khi bắn, nó kháng nhiễu khá tốt, bắn tự động thì bám rất dai và uy lực sát thương cao.

Xác suất tiêu diệt 2 quả lên tới trên 0,82. Thật tuyệt! Ai cũng mừng và kỳ vọng, chẳng bao lâu nữa, S-125 sẽ “làm nên chuyện” tại trận chiến chống tập kích đường không của Mỹ vào miền Bắc.

Tất cả lao vào học tập với quyết tâm rất cao. Còn chỉ huy của họ, nhìn thực lực các thành phần trắc thủ, lòng thầm mong rút ngắn thời gian để về nước nghênh chiến. Cố gắng học 8 tháng, thậm chí nhanh hơn nữa để về chiến đấu.

Tại Trung tâm Sitentrai có khoảng 10 phân hệ tương ứng với các xe của phân đội tên lửa được chia ra. Tại các phòng học lý thuyết, như tính năng kỹ chiến thuật, sơ đồ chức năng, có các thầy giáo là các sĩ quan Liên Xô từ trung úy đến đại tá giảng bài.

Trên tường có hàng chục tranh, sơ đồ về hệ thống radar, tên lửa dòng Pechora. Nhiều phòng học có mô hình cắt - bổ khí tài, như phòng học lớp đạn, phòng học lớp bệ phóng.

Ở các môn học quan trọng, như vị trí sĩ quan điều khiển, trắc thủ “tay quay”, yêu cầu phải hiểu rõ nguyên lý điều khiển liên tục và thao tác chuẩn xác, có tới 3 giáo viên thay nhau giảng dạy.

Những lớp này có bảng ma-két 3D, mô tả vùng trời và các hình thái quỹ đạo điều khiển đạn.

Ngay từ tuần học, tháng học đầu tiên, các sĩ quan Nga đã hết lòng giảng giải, sử dụng sơ đồ khối và cả công thức toán học để học viên hiểu từng mạch điện.

Nhưng các thày cũng ngạc nhiên về kết quả nắm chắc bài giảng của học viên Việt Nam, cho dù phải qua phiên dịch.

Họ bất ngờ vì người học nắm rất chắc nguyên tắc khuyếch đại, nguyên lý dao động của mạch điện và mối liên hệ giữa các linh kiện trong từng trường hợp đổi dòng, giảm điện thế...

Sau này các thầy mới vỡ lẽ, họ đang giảng cho đối tượng, không phải là học sinh phổ thông “Tốt nghiệp lớp 10” như hầu hết danh sách đã ghi, mà là đa số sinh viên các trường đại học kỹ thuật ở Hà Nội.

Phần lớn kiến thức cơ bản về vật lý đại cương, toán cao cấp, họ đã “nghiền” xong. Khoảng 20% là sinh viên khoa điện, vô tuyến điện ở ĐH Bách Khoa Hà Nội. Biết vậy các giáo viên người Nga lại càng gần gũi trao đổi, gợi ý và có phần hưng phấn trong hướng dẫn.

Điều này làm cho anh em liên hệ hiểu sâu thêm từng vấn đề.

Sở dĩ có chuyện “khai thụt” học vấn, vì chỉ huy trung đoàn muốn “ăn chắc”, muốn các giáo viên giảng giải sao cho dễ hiểu nhất, tương ứng với cách dạy cho đối tượng như là học sinh phổ thông vừa tốt nghiệp.

 Bệ phóng tên lửa Pechora loại 2 cần được Liên Xô viện trợ cho Việt Nam năm 1972.

Bệ phóng tên lửa Pechora loại 2 cần được Liên Xô viện trợ cho Việt Nam năm 1972.

Một “đạo quân” phiên dịch

Lại phải nói về phiên dịch cho khóa huấn luyện này. Quân đội Việt Nam đã huy động một đội ngũ đông đảo phiên dịch viên, tổ chức hẳn thành một đại đội phục vụ các lớp chuyên ngành.

Như anh Hoàng Tích Lạc (khi đó là kỹ sư đang công tác tại Viện Y học Hàng không, giỏi tiếng Nga, cũng được điều động gấp về trung đoàn, chủ yếu làm nhiệm vụ phiên dịch hệ điều khiển...

Như Thiếu úy Trần Quốc Dung, quê Quảng Ngãi, đã tốt nghiệp xuất sắc khoa Vật lý lý thuyết, trường Đại học Lomonoxov về nước, mới vừa nhập ngũ.

Anh được Học viện Kỹ thuật quân sự lấy về, lần này lại phải đi cùng tên lửa.Trần Quốc Dung là một trong những phiên dịch trực tiếp phim trên màn ảnh rất tốt.

Trong số này có các cán bộ kỹ thuật có trình độ tiếng Nga tốt, ở các trung đoàn tên lửa S-75. Các anh đóng hai vai, một vai phiên dịch, một vai được giao là phải tự học các hệ theo phân công, để về nước tham gia công tác bảo đảm kỹ thuật cho các đơn vị sau này.

Những phiên dịch tài ba như thế là các tiểu giáo viên, giúp các trắc thủ nhanh hiểu bài.

Khóa học này có cả các sĩ quan trẻ vừa tốt nghiệp Học Viện kỹ thuật quân sự, như Thiếu úy Đỗ Hà Bắc, Nguyễn Hùng Vĩ ở phân đội 164... học tại các lớp “hệ mới” như hệ chống nhiễu, hệ tọa độ, lớp kiểm tra kíp, lắp ráp đạn (thuốc phóng khô)...

Ngày hai buổi lên lớp, tối về ôn bài, chẳng bao lâu các học viên đã học xong phần lý thuyết cơ sở và sơ đồ khối của hệ thống tên lửa mới. Phần “sở trường” đã xong.

Tới phần hướng dẫn thao tác và thực hành, lúc này mọi nội dung hoàn toàn mới lạ. Các sĩ quan Liên Xô thực hiện phương pháp kết hợp, vừa giảng bằng sơ đồ, hình vẽ, vừa thực hành thao tác thật trên các khối máy, tủ máy.

Họ giành cho học viên nhiều thời gian tiếp cận với khí tài thật.

Các thày cho rằng bộ khí tài S-125 có khả năng chiến đấu ở nhiều chiến trường, với nhiều địa hình khác nhau, cho dù khí hậu rất khắc nghiệt.

Bằng cớ là tại vùng Baikan, Viễn Đông (CH Nga) nơi mùa đông băng giá, nhiệt độ xuống dưới 40 độ, nó vẫn bắn tốt. Sang sa mạc Trung Đông, nhiệt độ lên đến 45 độ ngoài trời, như thế độ chênh lệch tới gần 100 độ, mà nó vẫn phát huy tính năng.

“Các bạn hãy tin vào khí tài của chúng tôi” các sĩ quan Nga bảo vậy.

Trung úy Nguyễn Văn Tẩm, một phiên dịch tiết lộ, trong số giáo viên cấp tá của Liên Xô giảng cho lớp 12 tiểu đoàn trưởng, có các thày vốn là sĩ quan cấp trung đoàn, vừa chiến đấu ở kênh đào Suye (Ai Cập), năm 1970, đánh trả Không quân Israel, mới về nước.

Chính các sĩ quan này đã lập công, lần đầu khai hỏa dòng tên lửa Pechora, bắn máy bay F-4 của Mỹ ở chiến trường Trung Đông.

 Trung đoàn tên lửa 276 nay đã được trang bị vũ khí mới, hiện đại có khả năng triển khai, thu hồi nhanh, kháng nhiễu tốt.

Trung đoàn tên lửa 276 nay đã được trang bị vũ khí mới, hiện đại có khả năng triển khai, thu hồi nhanh, kháng nhiễu tốt.

Chạy đua với thời gian

Trong thực hành, bằng cách tổ chức các nhóm “cuốn chiếu xoay vòng”, nên tần suất được tiếp xúc với khí tài tăng lên.

Cả 5 bộ khí tài trên bãi tập hầu như liên tục được nối điện, có nhiều khi huấn luyện ban đêm. Cả một vùng sườn núi bên Vịnh biển rền vang tiếng máy phát điện, tiếng động cơ anten quay. Đêm, ánh điện sáng như một công trường xây dựng lớn.

Trung đoàn phó 276 là Thiếu tá Trần Đình Ái nói thẳng với các chiến sĩ sinh viên: Ta đang ở nước bạn, họ làm ra khí tài, có đội ngũ thợ giỏi, có các thày chuyên môn vững, các đồng chí cứ mạnh dạn làm các động tác.

Điều chỉnh nhiều mới lấy tham số chuẩn. Sai thì có người sửa. Hỏng khí tài, “cháy linh kiện” có bạn thay thế ngay. Mạnh dạn thao tác, va vấp mới tiến bộ nhanh! Đúng như vậy, anh em rất say mê “vặn, xoáy” đo, thử trên đồng hồ, trên các oxilo hiện sóng. Tiến bộ nhanh.

Nguyên khẩu đội trưởng bệ phóng Trần Anh Vũ (sau này là cán bộ của ngành Điện lực), tiểu đoàn 164 nhớ lại: Chúng tôi vừa dùng trí, học thông mạch điện sơ đồ “Sutt” của bệ phóng S-125, vừa phải dùng sức thực hành kích bệ, cân bằng, định hướng.

Nhờ cố gắng, chúng tôi đã giành giải nhất, thi triển khai bệ phóng với phân đội bạn. Sĩ quan Anaton phụ trách lớp tôi đánh giá cao kết quả này.

Nguyên trắc thủ Trần Mạnh Linh (sau này là Trưởng ban thời sự Đài Truyền hình Phú Thọ) kể: Chúng tôi nắm chắc lý thuyết, sơ đồ khối hệ điều khiển, nên hiểu từng động tác “vê” tay quay, điều khiển đạn.

Hình dung ra mỗi động tác của mình, sẽ tác động tới các mặt phẳng của cánh sóng phương vị ngoài không gian ra sao, nên tiến bộ rất nhanh. Thượng úy Vasily rất vui khi chúng tôi thành thục động tác.

Lại phải nói, số sĩ quan đi cùng khóa huấn luyện, chuyển loại lần này, có nhiều người từng thực chiến ở trận địa hỏa lực tên lửa trong chiến tranh. Từ Trung đoàn trưởng Phạm Sơn, là tiểu đoàn trưởng thuộc trung đoàn 238 tham gia tác chiến ở giới tuyến Vĩnh Linh.

Tiểu đoàn ông bắn rơi mấy máy bay Mỹ ngay sát giới tuyến. Như nguyên sĩ quan điều khiển, thượng sĩ Võ Trí Trư, người đã bấm nút bắn hạ C-130 Mỹ ở tuyến nam Khu 4.

Như nguyên tiểu đoàn phó Chu Lưu (Con trai nhà văn Chu Văn - quê Nam Định), dạn dày trận mạc, đánh máy bay Mỹ... Đây là các “giáo viên chiến đấu thứ 2”, bên cạnh các sĩ quan Liên-Xô, hàng ngày huấn luyện hiệp đồng kíp chiến đấu.

Vì thế chỉ mới học thực hành tác chiến đến tháng thứ hai, các kíp chiến đấu của 12 tiểu đoàn đã đạt sai số bắn thấp nhất.

Nhớ ngày mới về đây, Đại tá Lakisev trưởng Trung tâm Sitentrai, dáng cao to giọng sang sảng. Đại tá nói:

"Tôi xin nói trước, để làm chủ vũ khí khí tài hiện đại này, các bạn phải mất ít nhất 18 tháng. Nhưng các bạn chỉ yêu cầu có 8 tháng thì thật tình, tôi rất ái ngại. Vậy để hoàn thành nhiệm vụ, các đồng chí phải cố gắng thật cật lực!"

Lúc này trước kết quả học tập, Đại tá Lakisev mừng lắm. Ông bảo, các bạn Việt Nam rất sáng tạo, chăm chỉ. Tôi tin các bạn làm chủ nhanh vũ khí. Chỉ còn chờ kết quả bắn.

Thời gian 1 tuần ở bãi bắn Ashuluk cách Trung tâm 3 ngày đường, diễn ra khá nhanh. Đây thực sự là một đợt thực hành tổng hợp.

Anh em vừa nhận khí tài, vừa thao tác, điều chỉnh vừa thực hành bắn đạn thật. Cả 12 tiểu đoàn đều bắn trúng mục tiêu bay thấp rất lắt léo.

Tin vui loan nhanh về Bộ quốc phòng Liên Xô. Sau khi nghiệm thu khí tài và kỹ thuật, phía Liên-Xô đã đồng ý cho ký kết tiếp nhận trang bị.

Một cảm giác thật bồi hồi sung sướng, khi thiếu úy Nguyễn Ngọc Quý, một cán bộ đi học đợt này, được sĩ quan điều khiển của bạn mời ký (lưu bút) vào mặt một tủ máy.

Các giáo viên bắt tay, vỗ vai Quý nói rằng, chữ ký trên khí tài này sẽ theo Quý và các sĩ quan Việt Nam về trận địa tên lửa phòng không S-125 ở miền Bắc Việt Nam trong thời gian sớm nhất!

Thì ra, nhà máy chế tạo S-125 cũng bàn giao, nghiệm thu khí tài cho Việt Nam tại đây. Tiểu đoàn nào, nhận khí tài nấy, điều này khiến họ càng phấn khích, mong ngày trở về.

Kết

Sau 1 tháng tiếp tục huấn luyện triển khai, thu hồi khí tài ở ngoại vi thành phố Sumgait, tại bãi biển Caspien. Hai trung đoàn về nước, đầu tháng 12 năm 1972.

Thật tiếc, tên lửa SAM-3 (S-125) đã không còn cơ hội tham chiến vì 12 ngày đêm đánh B- 52 kết thúc. Người, khí tài đã về trận địa mà đạn vẫn rải rác trên các toa tàu tuyến ga Zabaikan - Bằng Tường.

Rồi chiến tranh kết thúc, phải tới hơn 20 năm sau, dòng khí tài Pechura 2 đạn trên 1 bệ phóng mới kết thúc sứ mệnh canh giữ vùng trời Việt Nam, nhường chỗ cho các khí tài tiên tiến, uy lực hơn.

Lứa chiến sĩ tên lửa, là sinh viên ngày ấy, nay đã trên 60 tuổi. Sau này, nhiều anh ra quân năm 1975, trở về mặt trận mới.

Người thành kỹ sư, nhà quản lý, tướng lĩnh, người giữ giữ cương vị cao trong các ngành, như nguyên trắc thủ Nguyễn Đức Hoàn, sau là Giám đốc nhà máy xi măng Hoàng Thạch nhiều năm liền. Như Vi Văn Liên, sau là Phó Tư lệnh quân chủng PK-KQ.

Như Dương Xuân Nam (Dương Kỳ Anh) Tổng biên tập Báo Tiền Phong. Như Tạ Tấn, UVTU, Giám đốc Học viện Quốc gia HCM...

Bài học rút ra qua khóa huấn luyện ở Baku là, với việc chuyển giao khí tài, huấn luyện khai thác sử dụng, chuyển loại vũ khí, nếu chọn đầu vào là các chiến sĩ có học vấn tốt, thì không có gì tốt bằng phương pháp “cầm tay, chỉ việc” trực tiếp huấn luyện trên máy.

Sau này nâng cao nhận thức bằng học tiếp lý thuyết cơ bản. Mới đấy mà đã 44 năm.

Bộ đội tên lửa VN: "Khai thụt học vấn" khi đi học ở nước ngoài!
Bộ đội tên lửa VN: "Khai thụt học vấn" khi đi học ở nước ngoài!

Đại tá Lakisev - Trưởng Trung tâm huấn luyện Sitentrai, nói: "Tôi xin nói trước, để làm chủ vũ khí khí tài tên lửa hiện đại này, các bạn phải mất ít nhất 18 tháng".

Khai thụt học vấn

Vừa xa giảng đường đại học, nhập ngũ chưa lâu, tháng 7 năm 1972, khoảng 400 tân binh gốc là sinh viên các Trường Đại học tại Hà Nội đã tham gia cuộc “hành binh” đặc biệt, bằng tàu hỏa liên vận quốc tế xuyên Á-Âu.

Đoàn tàu chạy từ Việt Nam qua ngả Bằng Tường - Vũ Hán - Thiên Tân - Hắc Long Giang - Zabaikan - Omxco - Volgagrat... có mặt tại căn cứ quân sự ngoại vi Thủ đô Baku nước CH Azerbaijan.

Liên Xô khi đó còn là mùa Hè. Họ sang đây để chuyển loại tên lửa phòng không thế hệ mới, do Liên Xô viện trợ.

Số sinh viên này nằm trong nguồn binh lực “để giành” của Việt Nam, được “xuất ra” nhập ngũ đợt này, dự kiến đưa vào tham chiến giữa những tháng năm đối kháng cam go, ác liệt với Không quân Mỹ.

Khi đó Chính quyền Nixon vừa thay chiến thuật “leo thang chiến tranh” thành thủ đoạn đánh ồ ạt thẳng vào Hà Nội, Hải Phòng, gây sức ép Việt Nam... hòng “Đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”.

 Tác giả bài viết - Đại tá Trần Danh Bảng, nguyên học viên tên lửa Việt Nam tham gia chuyển loại tên lửa SAM-3 ở Liên Xô. Ảnh: Trần Danh Bảng.

Tác giả bài viết - Đại tá Trần Danh Bảng, nguyên học viên tên lửa Việt Nam tham gia chuyển loại tên lửa SAM-3 ở Liên Xô. Ảnh: Trần Danh Bảng.

Tại căn cứ tên lửa Sitentrai, thị trấn Zưc, bên bờ Vịnh Baku, ngay khi đặt chân tới, cán bộ chiến sĩ (khung) hai trung đoàn tên lửa là 276 và 277 được phát bộ đồ tập trận màu vàng đất sa mạc, ống quần thắt túm, mũ vải rộng vành để tránh nắng.

Họ còn được trang bị giày “trâu” để leo trèo chắc chắn. Tất cả tư trang xi-vin Á Đông lúc này được cất trong kho, chờ ngày trở về. Họ lạ lẫm với vùng đất mà không gian luôn sực mùi dầu thô, những bản nhạc trên loa mang giai điệu dân ca đạo hồi phát suốt ngày.

Mặt biển Caspien luôn có váng dầu, ánh lên bảy sắc cầu vồng... Chỉ vài ngày sau, các cựu sinh viên đã được nhìn thấy bệ phóng tên lửa S-125 (SAM-3) với hai trái đạn uy nghi trên bệ. Nó còn có tên là Pechora, tên một con sông phía bắc nước Nga.

Họ sẽ học lý thuyết và thực hành khai thác hệ thống tên lửa này trong nhiều tháng. Nghe nói, S-125 tầm bắn gần hơn Dvina S-75 (SAM-2) ở trong nước. Nhưng khi bắn, nó kháng nhiễu khá tốt, bắn tự động thì bám rất dai và uy lực sát thương cao.

Xác suất tiêu diệt 2 quả lên tới trên 0,82. Thật tuyệt! Ai cũng mừng và kỳ vọng, chẳng bao lâu nữa, S-125 sẽ “làm nên chuyện” tại trận chiến chống tập kích đường không của Mỹ vào miền Bắc.

Tất cả lao vào học tập với quyết tâm rất cao. Còn chỉ huy của họ, nhìn thực lực các thành phần trắc thủ, lòng thầm mong rút ngắn thời gian để về nước nghênh chiến. Cố gắng học 8 tháng, thậm chí nhanh hơn nữa để về chiến đấu.

Tại Trung tâm Sitentrai có khoảng 10 phân hệ tương ứng với các xe của phân đội tên lửa được chia ra. Tại các phòng học lý thuyết, như tính năng kỹ chiến thuật, sơ đồ chức năng, có các thầy giáo là các sĩ quan Liên Xô từ trung úy đến đại tá giảng bài.

Trên tường có hàng chục tranh, sơ đồ về hệ thống radar, tên lửa dòng Pechora. Nhiều phòng học có mô hình cắt - bổ khí tài, như phòng học lớp đạn, phòng học lớp bệ phóng.

Ở các môn học quan trọng, như vị trí sĩ quan điều khiển, trắc thủ “tay quay”, yêu cầu phải hiểu rõ nguyên lý điều khiển liên tục và thao tác chuẩn xác, có tới 3 giáo viên thay nhau giảng dạy.

Những lớp này có bảng ma-két 3D, mô tả vùng trời và các hình thái quỹ đạo điều khiển đạn.

Ngay từ tuần học, tháng học đầu tiên, các sĩ quan Nga đã hết lòng giảng giải, sử dụng sơ đồ khối và cả công thức toán học để học viên hiểu từng mạch điện.

Nhưng các thày cũng ngạc nhiên về kết quả nắm chắc bài giảng của học viên Việt Nam, cho dù phải qua phiên dịch.

Họ bất ngờ vì người học nắm rất chắc nguyên tắc khuyếch đại, nguyên lý dao động của mạch điện và mối liên hệ giữa các linh kiện trong từng trường hợp đổi dòng, giảm điện thế...

Sau này các thầy mới vỡ lẽ, họ đang giảng cho đối tượng, không phải là học sinh phổ thông “Tốt nghiệp lớp 10” như hầu hết danh sách đã ghi, mà là đa số sinh viên các trường đại học kỹ thuật ở Hà Nội.

Phần lớn kiến thức cơ bản về vật lý đại cương, toán cao cấp, họ đã “nghiền” xong. Khoảng 20% là sinh viên khoa điện, vô tuyến điện ở ĐH Bách Khoa Hà Nội. Biết vậy các giáo viên người Nga lại càng gần gũi trao đổi, gợi ý và có phần hưng phấn trong hướng dẫn.

Điều này làm cho anh em liên hệ hiểu sâu thêm từng vấn đề.

Sở dĩ có chuyện “khai thụt” học vấn, vì chỉ huy trung đoàn muốn “ăn chắc”, muốn các giáo viên giảng giải sao cho dễ hiểu nhất, tương ứng với cách dạy cho đối tượng như là học sinh phổ thông vừa tốt nghiệp.

 Bệ phóng tên lửa Pechora loại 2 cần được Liên Xô viện trợ cho Việt Nam năm 1972.

Bệ phóng tên lửa Pechora loại 2 cần được Liên Xô viện trợ cho Việt Nam năm 1972.

Một “đạo quân” phiên dịch

Lại phải nói về phiên dịch cho khóa huấn luyện này. Quân đội Việt Nam đã huy động một đội ngũ đông đảo phiên dịch viên, tổ chức hẳn thành một đại đội phục vụ các lớp chuyên ngành.

Như anh Hoàng Tích Lạc (khi đó là kỹ sư đang công tác tại Viện Y học Hàng không, giỏi tiếng Nga, cũng được điều động gấp về trung đoàn, chủ yếu làm nhiệm vụ phiên dịch hệ điều khiển...

Như Thiếu úy Trần Quốc Dung, quê Quảng Ngãi, đã tốt nghiệp xuất sắc khoa Vật lý lý thuyết, trường Đại học Lomonoxov về nước, mới vừa nhập ngũ.

Anh được Học viện Kỹ thuật quân sự lấy về, lần này lại phải đi cùng tên lửa.Trần Quốc Dung là một trong những phiên dịch trực tiếp phim trên màn ảnh rất tốt.

Trong số này có các cán bộ kỹ thuật có trình độ tiếng Nga tốt, ở các trung đoàn tên lửa S-75. Các anh đóng hai vai, một vai phiên dịch, một vai được giao là phải tự học các hệ theo phân công, để về nước tham gia công tác bảo đảm kỹ thuật cho các đơn vị sau này.

Những phiên dịch tài ba như thế là các tiểu giáo viên, giúp các trắc thủ nhanh hiểu bài.

Khóa học này có cả các sĩ quan trẻ vừa tốt nghiệp Học Viện kỹ thuật quân sự, như Thiếu úy Đỗ Hà Bắc, Nguyễn Hùng Vĩ ở phân đội 164... học tại các lớp “hệ mới” như hệ chống nhiễu, hệ tọa độ, lớp kiểm tra kíp, lắp ráp đạn (thuốc phóng khô)...

Ngày hai buổi lên lớp, tối về ôn bài, chẳng bao lâu các học viên đã học xong phần lý thuyết cơ sở và sơ đồ khối của hệ thống tên lửa mới. Phần “sở trường” đã xong.

Tới phần hướng dẫn thao tác và thực hành, lúc này mọi nội dung hoàn toàn mới lạ. Các sĩ quan Liên Xô thực hiện phương pháp kết hợp, vừa giảng bằng sơ đồ, hình vẽ, vừa thực hành thao tác thật trên các khối máy, tủ máy.

Họ giành cho học viên nhiều thời gian tiếp cận với khí tài thật.

Các thày cho rằng bộ khí tài S-125 có khả năng chiến đấu ở nhiều chiến trường, với nhiều địa hình khác nhau, cho dù khí hậu rất khắc nghiệt.

Bằng cớ là tại vùng Baikan, Viễn Đông (CH Nga) nơi mùa đông băng giá, nhiệt độ xuống dưới 40 độ, nó vẫn bắn tốt. Sang sa mạc Trung Đông, nhiệt độ lên đến 45 độ ngoài trời, như thế độ chênh lệch tới gần 100 độ, mà nó vẫn phát huy tính năng.

“Các bạn hãy tin vào khí tài của chúng tôi” các sĩ quan Nga bảo vậy.

Trung úy Nguyễn Văn Tẩm, một phiên dịch tiết lộ, trong số giáo viên cấp tá của Liên Xô giảng cho lớp 12 tiểu đoàn trưởng, có các thày vốn là sĩ quan cấp trung đoàn, vừa chiến đấu ở kênh đào Suye (Ai Cập), năm 1970, đánh trả Không quân Israel, mới về nước.

Chính các sĩ quan này đã lập công, lần đầu khai hỏa dòng tên lửa Pechora, bắn máy bay F-4 của Mỹ ở chiến trường Trung Đông.

 Trung đoàn tên lửa 276 nay đã được trang bị vũ khí mới, hiện đại có khả năng triển khai, thu hồi nhanh, kháng nhiễu tốt.

Trung đoàn tên lửa 276 nay đã được trang bị vũ khí mới, hiện đại có khả năng triển khai, thu hồi nhanh, kháng nhiễu tốt.

Chạy đua với thời gian

Trong thực hành, bằng cách tổ chức các nhóm “cuốn chiếu xoay vòng”, nên tần suất được tiếp xúc với khí tài tăng lên.

Cả 5 bộ khí tài trên bãi tập hầu như liên tục được nối điện, có nhiều khi huấn luyện ban đêm. Cả một vùng sườn núi bên Vịnh biển rền vang tiếng máy phát điện, tiếng động cơ anten quay. Đêm, ánh điện sáng như một công trường xây dựng lớn.

Trung đoàn phó 276 là Thiếu tá Trần Đình Ái nói thẳng với các chiến sĩ sinh viên: Ta đang ở nước bạn, họ làm ra khí tài, có đội ngũ thợ giỏi, có các thày chuyên môn vững, các đồng chí cứ mạnh dạn làm các động tác.

Điều chỉnh nhiều mới lấy tham số chuẩn. Sai thì có người sửa. Hỏng khí tài, “cháy linh kiện” có bạn thay thế ngay. Mạnh dạn thao tác, va vấp mới tiến bộ nhanh! Đúng như vậy, anh em rất say mê “vặn, xoáy” đo, thử trên đồng hồ, trên các oxilo hiện sóng. Tiến bộ nhanh.

Nguyên khẩu đội trưởng bệ phóng Trần Anh Vũ (sau này là cán bộ của ngành Điện lực), tiểu đoàn 164 nhớ lại: Chúng tôi vừa dùng trí, học thông mạch điện sơ đồ “Sutt” của bệ phóng S-125, vừa phải dùng sức thực hành kích bệ, cân bằng, định hướng.

Nhờ cố gắng, chúng tôi đã giành giải nhất, thi triển khai bệ phóng với phân đội bạn. Sĩ quan Anaton phụ trách lớp tôi đánh giá cao kết quả này.

Nguyên trắc thủ Trần Mạnh Linh (sau này là Trưởng ban thời sự Đài Truyền hình Phú Thọ) kể: Chúng tôi nắm chắc lý thuyết, sơ đồ khối hệ điều khiển, nên hiểu từng động tác “vê” tay quay, điều khiển đạn.

Hình dung ra mỗi động tác của mình, sẽ tác động tới các mặt phẳng của cánh sóng phương vị ngoài không gian ra sao, nên tiến bộ rất nhanh. Thượng úy Vasily rất vui khi chúng tôi thành thục động tác.

Lại phải nói, số sĩ quan đi cùng khóa huấn luyện, chuyển loại lần này, có nhiều người từng thực chiến ở trận địa hỏa lực tên lửa trong chiến tranh. Từ Trung đoàn trưởng Phạm Sơn, là tiểu đoàn trưởng thuộc trung đoàn 238 tham gia tác chiến ở giới tuyến Vĩnh Linh.

Tiểu đoàn ông bắn rơi mấy máy bay Mỹ ngay sát giới tuyến. Như nguyên sĩ quan điều khiển, thượng sĩ Võ Trí Trư, người đã bấm nút bắn hạ C-130 Mỹ ở tuyến nam Khu 4.

Như nguyên tiểu đoàn phó Chu Lưu (Con trai nhà văn Chu Văn - quê Nam Định), dạn dày trận mạc, đánh máy bay Mỹ... Đây là các “giáo viên chiến đấu thứ 2”, bên cạnh các sĩ quan Liên-Xô, hàng ngày huấn luyện hiệp đồng kíp chiến đấu.

Vì thế chỉ mới học thực hành tác chiến đến tháng thứ hai, các kíp chiến đấu của 12 tiểu đoàn đã đạt sai số bắn thấp nhất.

Nhớ ngày mới về đây, Đại tá Lakisev trưởng Trung tâm Sitentrai, dáng cao to giọng sang sảng. Đại tá nói:

"Tôi xin nói trước, để làm chủ vũ khí khí tài hiện đại này, các bạn phải mất ít nhất 18 tháng. Nhưng các bạn chỉ yêu cầu có 8 tháng thì thật tình, tôi rất ái ngại. Vậy để hoàn thành nhiệm vụ, các đồng chí phải cố gắng thật cật lực!"

Lúc này trước kết quả học tập, Đại tá Lakisev mừng lắm. Ông bảo, các bạn Việt Nam rất sáng tạo, chăm chỉ. Tôi tin các bạn làm chủ nhanh vũ khí. Chỉ còn chờ kết quả bắn.

Thời gian 1 tuần ở bãi bắn Ashuluk cách Trung tâm 3 ngày đường, diễn ra khá nhanh. Đây thực sự là một đợt thực hành tổng hợp.

Anh em vừa nhận khí tài, vừa thao tác, điều chỉnh vừa thực hành bắn đạn thật. Cả 12 tiểu đoàn đều bắn trúng mục tiêu bay thấp rất lắt léo.

Tin vui loan nhanh về Bộ quốc phòng Liên Xô. Sau khi nghiệm thu khí tài và kỹ thuật, phía Liên-Xô đã đồng ý cho ký kết tiếp nhận trang bị.

Một cảm giác thật bồi hồi sung sướng, khi thiếu úy Nguyễn Ngọc Quý, một cán bộ đi học đợt này, được sĩ quan điều khiển của bạn mời ký (lưu bút) vào mặt một tủ máy.

Các giáo viên bắt tay, vỗ vai Quý nói rằng, chữ ký trên khí tài này sẽ theo Quý và các sĩ quan Việt Nam về trận địa tên lửa phòng không S-125 ở miền Bắc Việt Nam trong thời gian sớm nhất!

Thì ra, nhà máy chế tạo S-125 cũng bàn giao, nghiệm thu khí tài cho Việt Nam tại đây. Tiểu đoàn nào, nhận khí tài nấy, điều này khiến họ càng phấn khích, mong ngày trở về.

Kết

Sau 1 tháng tiếp tục huấn luyện triển khai, thu hồi khí tài ở ngoại vi thành phố Sumgait, tại bãi biển Caspien. Hai trung đoàn về nước, đầu tháng 12 năm 1972.

Thật tiếc, tên lửa SAM-3 (S-125) đã không còn cơ hội tham chiến vì 12 ngày đêm đánh B- 52 kết thúc. Người, khí tài đã về trận địa mà đạn vẫn rải rác trên các toa tàu tuyến ga Zabaikan - Bằng Tường.

Rồi chiến tranh kết thúc, phải tới hơn 20 năm sau, dòng khí tài Pechura 2 đạn trên 1 bệ phóng mới kết thúc sứ mệnh canh giữ vùng trời Việt Nam, nhường chỗ cho các khí tài tiên tiến, uy lực hơn.

Lứa chiến sĩ tên lửa, là sinh viên ngày ấy, nay đã trên 60 tuổi. Sau này, nhiều anh ra quân năm 1975, trở về mặt trận mới.

Người thành kỹ sư, nhà quản lý, tướng lĩnh, người giữ giữ cương vị cao trong các ngành, như nguyên trắc thủ Nguyễn Đức Hoàn, sau là Giám đốc nhà máy xi măng Hoàng Thạch nhiều năm liền. Như Vi Văn Liên, sau là Phó Tư lệnh quân chủng PK-KQ.

Như Dương Xuân Nam (Dương Kỳ Anh) Tổng biên tập Báo Tiền Phong. Như Tạ Tấn, UVTU, Giám đốc Học viện Quốc gia HCM...

Bài học rút ra qua khóa huấn luyện ở Baku là, với việc chuyển giao khí tài, huấn luyện khai thác sử dụng, chuyển loại vũ khí, nếu chọn đầu vào là các chiến sĩ có học vấn tốt, thì không có gì tốt bằng phương pháp “cầm tay, chỉ việc” trực tiếp huấn luyện trên máy.

Sau này nâng cao nhận thức bằng học tiếp lý thuyết cơ bản. Mới đấy mà đã 44 năm.

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016

Sau Cuba, tên lửa Mỹ lại "đi lạc" sang Serbia

Sau Cuba, tên lửa Mỹ lại "đi lạc" sang Serbia
Sau Cuba, tên lửa Mỹ lại "đi lạc" sang Serbia

2 tên lửa không-đối-đất đáng lẽ phải chuyển đến Mỹ nhưng lại được tìm thấy trên máy bay chở khách. Giới chức Serbia hiện đang điều tra vụ việc này.

Theo hãng thông tấn Tanjug (Serbia), Air Serbia - hãng hàng không lớn nhất tại Serbia - xác nhận rằng chó nghiệp vụ của họ đã phát hiện ra kiện hàng bất thường trên máy bay chở khách.

Tờ Huffington Post cho biết, máy bay này khởi hành từ Beirut (Lebanon).

Trước đó, truyền thông Serbia đưa tin, 2 tên lửa (mỗi tên lửa dài 1,5m) được tìm thấy trên khoang máy bay chở khách tại sân bay Belgrade Nikola Tesla.

Chúng được đặt trong một chiếc thùng gỗ với các giấy tờ liên quan ghi chép điểm đến là Portland, bang Oregon (Mỹ).

Các tên lửa này có vẻ là AGM-114 Hellfire, một loại tên lửa chính xác có thể được phóng từ mặt đất, trên biển hoặc trên không (như trang bị cho máy bay không người lái tấn công Predator).

Mỗi tên lửa trị giá 10.000 USD, có tầm bắn lên tới 8km.

 Tên lửa Hellfire.

Tên lửa Hellfire.

Người phát ngôn của FBI tại Portland cho hay, cơ quan này đã nhận được thông báo nhưng từ chối cung cấp thông tin.

Trong khi đó, Lockheed Martin, nhà sản xuất tên lửa Hellfire, cho biết họ vẫn chưa được thông báo tình hình.

Robert Caruso, cựu nhân viên Bộ Ngoại giao Mỹ đăng trên twitter rằng, không có lý do hợp pháp nào để các tên lửa này được mang lên máy bay chở khách. Rất có thể, chúng đã bị đánh cắp.

Trao đổi với kênh truyền hình N1 (Serbia), chuyên gia quân sự Aleksander Radić cho hay, mặc dù các loại vũ khí thi thoảng được chuyển qua sân bay Nikola Tesla nhưng xưa nay chưa từng nghe có trường hợp chúng được vận chuyển bằng máy bay chở khách.

Đáng chú ý là trước đó, vào tháng 6/2015, Bộ Ngoại giao Mỹ thông báo nước này có thể cung cấp 1.000 tên lửa Hellfire cho Lebanon.

Nếu vụ việc này được các bên xác nhận thì đây không phải lần đầu tiên tên lửa Hellfire bị "chuyển nhầm" địa chỉ.

Tháng Một năm nay, tờ Wall Street Journal đưa tin, một tên lửa Hellfire đáng lẽ phải chuyển đến châu Âu để phục vụ công tác huấn luyện nhưng rốt cuộc lại bị “chuyển nhầm” tới Cuba vào năm 2014.

Giới chức Mỹ đã phải tìm mọi cách thuyết phục chính phủ Cuba trả lại tên lửa bị gửi nhầm do lo sợ nước này có thể chia sẻ các công nghệ quân sự nhạy cảm của Hellfire cho các nước như Nga, Trung Quốc và Triều Tiên.

Theo Huffington Post, hiện tên lửa Hellfire có mặt tại nhiều khu vực trên thế giới.

Chẳng hạn như trong tháng 1 vừa qua, Cơ quan hợp tác an ninh quốc phòng Mỹ đã thông qua hợp đồng trị giá 800 triệu USD để cung cấp 5.000 tên lửa loại này cho chính phủ Iraq, nhằm hỗ trợ cuộc chiến chống tổ chức khủng bố IS.

Sau Cuba, tên lửa Mỹ lại "đi lạc" sang Serbia
Sau Cuba, tên lửa Mỹ lại "đi lạc" sang Serbia

2 tên lửa không-đối-đất đáng lẽ phải chuyển đến Mỹ nhưng lại được tìm thấy trên máy bay chở khách. Giới chức Serbia hiện đang điều tra vụ việc này.

Theo hãng thông tấn Tanjug (Serbia), Air Serbia - hãng hàng không lớn nhất tại Serbia - xác nhận rằng chó nghiệp vụ của họ đã phát hiện ra kiện hàng bất thường trên máy bay chở khách.

Tờ Huffington Post cho biết, máy bay này khởi hành từ Beirut (Lebanon).

Trước đó, truyền thông Serbia đưa tin, 2 tên lửa (mỗi tên lửa dài 1,5m) được tìm thấy trên khoang máy bay chở khách tại sân bay Belgrade Nikola Tesla.

Chúng được đặt trong một chiếc thùng gỗ với các giấy tờ liên quan ghi chép điểm đến là Portland, bang Oregon (Mỹ).

Các tên lửa này có vẻ là AGM-114 Hellfire, một loại tên lửa chính xác có thể được phóng từ mặt đất, trên biển hoặc trên không (như trang bị cho máy bay không người lái tấn công Predator).

Mỗi tên lửa trị giá 10.000 USD, có tầm bắn lên tới 8km.

 Tên lửa Hellfire.

Tên lửa Hellfire.

Người phát ngôn của FBI tại Portland cho hay, cơ quan này đã nhận được thông báo nhưng từ chối cung cấp thông tin.

Trong khi đó, Lockheed Martin, nhà sản xuất tên lửa Hellfire, cho biết họ vẫn chưa được thông báo tình hình.

Robert Caruso, cựu nhân viên Bộ Ngoại giao Mỹ đăng trên twitter rằng, không có lý do hợp pháp nào để các tên lửa này được mang lên máy bay chở khách. Rất có thể, chúng đã bị đánh cắp.

Trao đổi với kênh truyền hình N1 (Serbia), chuyên gia quân sự Aleksander Radić cho hay, mặc dù các loại vũ khí thi thoảng được chuyển qua sân bay Nikola Tesla nhưng xưa nay chưa từng nghe có trường hợp chúng được vận chuyển bằng máy bay chở khách.

Đáng chú ý là trước đó, vào tháng 6/2015, Bộ Ngoại giao Mỹ thông báo nước này có thể cung cấp 1.000 tên lửa Hellfire cho Lebanon.

Nếu vụ việc này được các bên xác nhận thì đây không phải lần đầu tiên tên lửa Hellfire bị "chuyển nhầm" địa chỉ.

Tháng Một năm nay, tờ Wall Street Journal đưa tin, một tên lửa Hellfire đáng lẽ phải chuyển đến châu Âu để phục vụ công tác huấn luyện nhưng rốt cuộc lại bị “chuyển nhầm” tới Cuba vào năm 2014.

Giới chức Mỹ đã phải tìm mọi cách thuyết phục chính phủ Cuba trả lại tên lửa bị gửi nhầm do lo sợ nước này có thể chia sẻ các công nghệ quân sự nhạy cảm của Hellfire cho các nước như Nga, Trung Quốc và Triều Tiên.

Theo Huffington Post, hiện tên lửa Hellfire có mặt tại nhiều khu vực trên thế giới.

Chẳng hạn như trong tháng 1 vừa qua, Cơ quan hợp tác an ninh quốc phòng Mỹ đã thông qua hợp đồng trị giá 800 triệu USD để cung cấp 5.000 tên lửa loại này cho chính phủ Iraq, nhằm hỗ trợ cuộc chiến chống tổ chức khủng bố IS.

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2016

Chuyện ít biết về "bóng ma" F-4

Chuyện ít biết về "bóng ma" F-4
Chuyện ít biết về "bóng ma" F-4

Những năm 1960, khi NASA phóng tên lửa Titan từ mũi Canaveral, họ cần 1 máy bay theo sát ghi hình khi tên lửa vượt mốc vận tốc siêu âm ở độ cao 10km. F-4 là lựa chọn phù hợp nhất.

“Hai động cơ phản lực J79 chính là điểm khác biệt” - Jack Petry, cựu đại tá không quân Mỹ, cho biết. Ông cũng là phi công được chọn thực hiện nhiệm vụ trên.

Trong quá trình đếm ngược cho đến lúc phóng tên lửa, Petry thực hiện cú bổ nhào để đạt vật tốc Mach 1,2 và sau đó nhắm theo hướng luồng khói từ động cơ khi tên lửa vừa rời khỏi bệ phóng để áp sát.

Ông phải liên tục điều chỉnh vận tốc tiếp cận và xử lý các thông số nhận được từ mặt đất để đảm bảo các camera (có tốc độ chụp lên đến 900 khung ảnh/giây, gắn dưới cánh máy bay) luôn hướng về phía tên lửa.

Trong 90 giây sau khi phóng, chiếc F-4 phải duy trì vận tốc tương đương với Titan, đồng thời tránh luồng phản lực từ động cơ tên lửa.

Máy bay F-4 Phantom của Mỹ thả bom
Máy bay F-4 Phantom của Mỹ thả bom

Trong một lần ghi hình vụ phóng tên lửa Titan II vào tháng 1/1965, chiếc F-4 của Petry đã đạt đến độ cao gần 21 km, trong khi trần bay theo thiết kế của nó chỉ vào khoảng 15 km.

Qua điện đài, Petry có thể nghe rõ tiếng kiểm soát viên ở đài điều khiển liên tục yêu cầu ông quay trở lại nhưng ông trấn an rằng máy bay vẫn còn đủ sức đẩy để tiếp tục hành trình của mình.

Ngay cả sau khi đã vượt qua giới hạn bay của mình ở độ cao 21 km, chiếc F-4 vẫn khá ổn định, cho phép Petry thực hiện cú lộn vòng, tái lập sức nâng và tiếp tục ghi hình.

Đây là một trong số rất nhiều loại nhiệm vụ mà F-4 thực hiện trong khoảng thời gian hoạt động gần 40 năm của mình.

Kỷ nguyên chiến đấu cơ 2 chỗ ngồi

Năm 1954, đích thân James S. McDonnell, người sáng lập của hãng sản xuất máy bay McDonnell, trình bày bản thiết kế sơ khởi của mẫu chiến đấu cơ này cho Lầu Năm Góc, dựa trên các yêu cầu của hải quân Mỹ.

Sau đó, ông được chấp thuận để triển khai giai đoạn thiết kế chi tiết, cạnh tranh cùng với 1 mẫu thiết kế khác là chiếc F8U-3.

Giai đoạn này diễn ra tại một góc nhỏ bên trong nhà máy của McDonnell tại thành phố St.Louis, chỉ với một đội ngũ kỹ sư gồm 4 người.

Cùng lúc đó, Hải quân Mỹ cũng dần hoàn thiện học thuyết không chiến mới của mình.

Yêu cầu được đặt ra là một mẫu chiến đấu cơ đánh chặn 2 chỗ ngồi, hoạt động ở độ cao lớn, nhằm bảo vệ những tàu sân bay hạng nặng mới thuộc lớp Forrestal khỏi sự đe dọa từ các máy bay ném bom của Liên Xô.

Dự án F-4 trở thành dự án chính của McDonnell và được hãng tập trung mọi nguồn lực vào đó.

 Máy bay F-4 của Mỹ và các vũ khí.

Máy bay F-4 của Mỹ và các vũ khí.

F-4 được thiết kế dựa trên dự đoán của hải quân Mỹ về chiến tranh trong tương lai thay vì kinh nghiệm rút ra từ những cuộc chiến trước đó. Vị trí phi công phụ được thêm vào để xử lý lượng thông tin lớn hơn từ các thiết bị điện tử.

Vai trò của pháo trong không chiến cũng được cho là sẽ bị các tên lửa dẫn bằng radar thay thế. Hệ thống điện tử của F-4 tuy chưa hoàn toàn sử dụng công nghệ bán dẫn nhưng đã rất hiện đại vào thời điểm đó.

Điều này cũng gây ra thách thức không nhỏ trong quá trình chế tạo, lắp ráp hơn 30.000 thiết bị điện tử và 23 km dây dẫn. Những thiết bị này tạo ra rất nhiều trường điện từ và có thể gây nhiễu lẫn nhau.

Ví dụ như đồng hồ nhiên liệu có thể chỉ đầy trong khi thực tế bồn chứa hoàn toàn rỗng.

Một trường hợp khó tin hơn nữa là khi tần số giọng nói của 1 phi công thử nghiệm vô tình giao thoa với tín hiệu của hệ thống lái tự động gây tình trạng mất điều khiển tạm thời.

Sau khi F-4 chính thức đánh bại đối thủ F8U-3, một quan chức của hải quân Mỹ đã tuyên bố: “Thời đại của chiến đấu cơ 1 chỗ ngồi đã kết thúc”.

Động cơ J79 khi đó vẫn còn vấn đề về luồng khói thải có thể được nhìn thấy từ khoảng cách 40 km, một vấn đề mà phải 2 thập niên sau mới được giải quyết dứt điểm.

Tuy nhiên, F-4 vẫn chính thức được bàn giao cho hải quân Mỹ, với thời hạn bảo hành 1.000 giờ, vào tháng 12/1960.

Chiếc chiến đấu cơ mạnh mẽ, có khả năng đạt vận tốc Mach 2, cùng với rất nhiều trang thiết bị điện tử này được kỳ vọng sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong tác chiến trên không.

Trước đó, những phi công của hải quân phải tự hài lòng với các mẫu chiến đấu cơ phản lực với tính năng hạn chế do phải thích ứng với điều kiện vận hành khắc nghiệt trên tàu sân bay.

Ví dụ như chiếc F3H, cũng của hãng McDonnell, chỉ có thể bay ở vận tốc hạ âm. Song với sự ra đời của F-4, những phi công hải quân lại được vận hành mẫu chiến đấu cơ hàng đầu thế giới.

Thử lửa tại Việt Nam

Quá trình làm quen với F-4 cũng không đơn giản. Phi công chính và phi công phụ phía sau, hay còn gọi là sĩ quan radar (RIO), phải phối hợp ăn ý với nhau.

Các phi công hải quân trước đó đã quen với việc độc lập tác chiến, vì vậy việc có thêm 1 đồng đội phía sau ban đầu được đón nhận khá dè dặt.

Tuy nhiên, thực tế tác chiến tại Việt Nam đã cho thấy lợi ích của RIO. “Chúng tôi phân công nhiệm vụ cho nhau, anh ấy đã giúp tôi tránh khỏi nhiều tình huống nguy hiểm.

Trong tác chiến, có rất nhiều tác vụ phải xử lý và tôi thực sự cần có sự hỗ trợ của người ngồi sau”, John Chesire, người đã có 197 phi vụ trong chiến tranh Việt Nam cho biết.

Nhưng tham chiến mà không có pháo lại là một vấn đề khác. “Đó là sai lầm lớn nhất khi thiết kế F-4” - Chesire nói. “Đạn rất rẻ và luôn đi đúng hướng mà bạn muốn. Tôi ước gì khi đó mình được trang bị pháo".

Một phi đội F-4 được tiếp nhiên liệu trên không trong chiến tranh Việt Nam
Một phi đội F-4 được tiếp nhiên liệu trên không trong chiến tranh Việt Nam

Phantom còn có một phiên bản đặc biệt dùng cho trinh sát, gọi là RF-4B, được trang bị camera chụp ảnh và cảm biến hồng ngoại. Mẫu máy bay trinh sát này hoạt động độc lập và không được vũ trang, vì vậy tốc độ cao chính là lớp bảo vệ quan trọng nhất của RF-4B.

Để camera có thể hoạt động tốt nhất, RF-4B buộc phải duy trì đường bay thẳng ở độ cao không đổi 1,5 km. Điều này khiến nó trở thành mục tiêu thường xuyên của hỏa lực phòng không từ mặt đất.

Tướng về hưu Jack Dailey, người từng bay hơn 250 phi vụ trinh sát bên trên đường mòn Hồ Chí Minh kể lại: “Ngày nào chúng tôi cũng phải hứng lưới lửa phòng không.”

Bản thân Dailey từng 9 lần bị trúng đạn từ mặt đất. Một viên đạn xuyên qua buồng lái và chỉ sượt qua Dailey trong gang tấc.

Trong một lần khác, chiếc RF-4B của ông bị trúng đạn nhiều đến mức sau khi hạ cánh, người ta có thể nhìn thấy ánh sáng chiếu xuyên qua những lỗ thủng trên thân máy bay.

Khả năng cung cấp sức đẩy tức thời của động cơ J79 giúp tăng độ an toàn khi hạ cánh trên tàu sân bay vì nó cho phép phi công ngay lập tức cất cánh trở lại nếu gặp vấn đề.

Chesire từng trải qua kinh nghiệm này trong một lần hạ cánh trên chiếc USS Midway. Ông mắc một sai lầm sơ đẳng khi vội giảm hết công suất cả 2 động cơ và ngay sau đó phát hiện ra rằng máy bay của mình chưa móc được vào cáp hãm của tàu.

Camera trên chiếc Midway ghi lại hình ảnh chiếc F-4 biến mất sau khi chạy hết đường băng, nhưng ngay sau đó bay vọt lên lại, với động cơ ở chế độ đốt hậu, nhờ Chesire kịp tăng công suất lên tối đa.

Phi đoàn số 497, đóng tại Ubon Ratchathani, Thái Lan, có biệt danh là “Cú đêm”, vì chuyên thực hiện các phi vụ về đêm.

Doug Joyce , một cựu phi công nhớ lại: “Khi lần đầu tiên đến doanh trại của phi đoàn, điều đầu tiên đập vào mắt tôi là mọi thứ đều được sơn đen”.

Đơn vị này ít khi tác chiến với số lượng đông như các phi vụ ban ngày. Các phi đội thường xuất kích với đội hình chỉ 2 chiếc.

Những chiếc F-4 của “Cú đêm” có phần bụng được sơn đen và được trang bị bom thông thường hoặc bom dẫn đường bằng laser cho các phi vụ đánh chặn mục tiêu trên bộ.

“Pháo phòng không 37 mm là mối đe dọa lớn nhất với chúng tôi,” Joyce cho biết.

Tuy nhiên, nhiệm vụ nguy hiểm nhất và chỉ dành cho những phi công lão luyện nhất của phi đoàn là hộ tống B-52 vào đánh phá Hà Nội. Joyce kể lại trải nghiệm cá nhân của mình:

“Thật là nghẹt thở. Ngay từ những giờ phút đầu tiên, mặc dù được sự yểm trợ của những phi đội diệt tên lửa đất đối không Wild Weasel, vẫn có hàng trăm tên lửa phóng về phía chúng tôi.

B-52 hoạt động ở độ cao gần với trần bay của F-4. Chúng tôi cũng tránh dùng chế độ đốt hậu vì luồng phản lực rất dễ bị phát hiện về đêm.

Và việc cơ động theo phương ngang cũng bị hạn chế khi bay theo đội hình với nhiều máy bay khác bên cạnh.”

Một trong những cách để che chắn B-52 trước radar phòng không là thả một số lượng lớn những dải kim loại mỏng để tạo thành những “đám mây” nhiễu.

Tuy nhiên, với những chiếc F-4 lãnh trách nhiệm này thì chúng lại gây tác dụng ngược, vì trên màn hình radar, những “đám mây” này sẽ hiển thị giống một mũi tên lớn mà đỉnh nhọn chính là chiếc F-4 đang thả những dải kim loại trên.

Chiến dịch bão táp sa mạc

Jim Schreiner từng là phi công lái A-10 trong một thời gian dài và chỉ còn một chuyến công tác nữa trước khi chuyển về một công việc bàn giấy vào năm 1990.

Ông đề xuất được lái F-16 hay F-15 nhưng lại được chỉ định lái 1 chiếc F-4G. “Tuy vẫn là 1 chiến đấu cơ nhưng nó không phải là điều tôi mong đợi,” Schreiner nhớ lại.

Hai mươi năm sau khi hơn 200 máy bay Mỹ bị bắn rơi bởi tên lửa đất đối không tại Việt Nam, những phi công như Schreiner tiếp tục lái phiên bản cải tiến của những chiếc F-4 Wild Weasel chuyên tìm diệt radar phòng không trong chiến dịch Bão táp sa mạc.

Tuy nhiên, kết quả lần này lại hoàn toàn trái ngược khi không có máy bay Mỹ nào bị tên lửa phòng không của Iraq bắn rơi.

Những chiếc F-4 Wild Weasel được trang bị hệ thống cảnh báo và định vị radar AN/APR-47.

Vị trí ghế lái phía sau được bổ sung thêm nhiều thiết bị. Nhưng trang bị đáng giá nhất là từ 2 đến 4 tên lửa diệt radar AGM-88, có khả năng dò theo tín hiệu radar của những giàn phóng tên lửa phòng không.

2 giờ sáng ngày đầu tiên của chiến dịch, Schreiner và phi công phụ Dan Sharp, đang bay trong đội hình 2 chiếc, phát hiện vị trí tên lửa phòng không của Iraq.

So với bộ đội tên lửa Việt Nam trước đây, lính Iraq chưa có kinh nghiệm đối phó với người Mỹ và luôn để các radar của mình vận hành ở mức công suất tối đa. Kết quả là những phi công như Schreiner có rất nhiều mục tiêu để lựa chọn.

Từ trong buồng lái của mình, Schreiner quan sát từng tên lửa AGM-88 tìm đến mục tiêu. Trên màn hình radar của chiếc Phantom, những các vị trí tên lửa đối phương dần biến mất.

Không quân Iraq cũng không phải là mối bận tâm. Những chiếc F-4 Wild Weasel được trang bị tên lửa không đối không AIM-7 Sparrow song chúng không bao giờ được sử dụng.

“Nếu thực sự có những mối đe dọa trên không thì cũng đã có những chiếc F-15 xử lý…Chúng tôi tiếp tục bay như vậy cho đến khi kết thúc cuộc chiến", Schreiner cho biết.

Chuyện ít biết về "bóng ma" F-4
Chuyện ít biết về "bóng ma" F-4

Những năm 1960, khi NASA phóng tên lửa Titan từ mũi Canaveral, họ cần 1 máy bay theo sát ghi hình khi tên lửa vượt mốc vận tốc siêu âm ở độ cao 10km. F-4 là lựa chọn phù hợp nhất.

“Hai động cơ phản lực J79 chính là điểm khác biệt” - Jack Petry, cựu đại tá không quân Mỹ, cho biết. Ông cũng là phi công được chọn thực hiện nhiệm vụ trên.

Trong quá trình đếm ngược cho đến lúc phóng tên lửa, Petry thực hiện cú bổ nhào để đạt vật tốc Mach 1,2 và sau đó nhắm theo hướng luồng khói từ động cơ khi tên lửa vừa rời khỏi bệ phóng để áp sát.

Ông phải liên tục điều chỉnh vận tốc tiếp cận và xử lý các thông số nhận được từ mặt đất để đảm bảo các camera (có tốc độ chụp lên đến 900 khung ảnh/giây, gắn dưới cánh máy bay) luôn hướng về phía tên lửa.

Trong 90 giây sau khi phóng, chiếc F-4 phải duy trì vận tốc tương đương với Titan, đồng thời tránh luồng phản lực từ động cơ tên lửa.

Máy bay F-4 Phantom của Mỹ thả bom
Máy bay F-4 Phantom của Mỹ thả bom

Trong một lần ghi hình vụ phóng tên lửa Titan II vào tháng 1/1965, chiếc F-4 của Petry đã đạt đến độ cao gần 21 km, trong khi trần bay theo thiết kế của nó chỉ vào khoảng 15 km.

Qua điện đài, Petry có thể nghe rõ tiếng kiểm soát viên ở đài điều khiển liên tục yêu cầu ông quay trở lại nhưng ông trấn an rằng máy bay vẫn còn đủ sức đẩy để tiếp tục hành trình của mình.

Ngay cả sau khi đã vượt qua giới hạn bay của mình ở độ cao 21 km, chiếc F-4 vẫn khá ổn định, cho phép Petry thực hiện cú lộn vòng, tái lập sức nâng và tiếp tục ghi hình.

Đây là một trong số rất nhiều loại nhiệm vụ mà F-4 thực hiện trong khoảng thời gian hoạt động gần 40 năm của mình.

Kỷ nguyên chiến đấu cơ 2 chỗ ngồi

Năm 1954, đích thân James S. McDonnell, người sáng lập của hãng sản xuất máy bay McDonnell, trình bày bản thiết kế sơ khởi của mẫu chiến đấu cơ này cho Lầu Năm Góc, dựa trên các yêu cầu của hải quân Mỹ.

Sau đó, ông được chấp thuận để triển khai giai đoạn thiết kế chi tiết, cạnh tranh cùng với 1 mẫu thiết kế khác là chiếc F8U-3.

Giai đoạn này diễn ra tại một góc nhỏ bên trong nhà máy của McDonnell tại thành phố St.Louis, chỉ với một đội ngũ kỹ sư gồm 4 người.

Cùng lúc đó, Hải quân Mỹ cũng dần hoàn thiện học thuyết không chiến mới của mình.

Yêu cầu được đặt ra là một mẫu chiến đấu cơ đánh chặn 2 chỗ ngồi, hoạt động ở độ cao lớn, nhằm bảo vệ những tàu sân bay hạng nặng mới thuộc lớp Forrestal khỏi sự đe dọa từ các máy bay ném bom của Liên Xô.

Dự án F-4 trở thành dự án chính của McDonnell và được hãng tập trung mọi nguồn lực vào đó.

 Máy bay F-4 của Mỹ và các vũ khí.

Máy bay F-4 của Mỹ và các vũ khí.

F-4 được thiết kế dựa trên dự đoán của hải quân Mỹ về chiến tranh trong tương lai thay vì kinh nghiệm rút ra từ những cuộc chiến trước đó. Vị trí phi công phụ được thêm vào để xử lý lượng thông tin lớn hơn từ các thiết bị điện tử.

Vai trò của pháo trong không chiến cũng được cho là sẽ bị các tên lửa dẫn bằng radar thay thế. Hệ thống điện tử của F-4 tuy chưa hoàn toàn sử dụng công nghệ bán dẫn nhưng đã rất hiện đại vào thời điểm đó.

Điều này cũng gây ra thách thức không nhỏ trong quá trình chế tạo, lắp ráp hơn 30.000 thiết bị điện tử và 23 km dây dẫn. Những thiết bị này tạo ra rất nhiều trường điện từ và có thể gây nhiễu lẫn nhau.

Ví dụ như đồng hồ nhiên liệu có thể chỉ đầy trong khi thực tế bồn chứa hoàn toàn rỗng.

Một trường hợp khó tin hơn nữa là khi tần số giọng nói của 1 phi công thử nghiệm vô tình giao thoa với tín hiệu của hệ thống lái tự động gây tình trạng mất điều khiển tạm thời.

Sau khi F-4 chính thức đánh bại đối thủ F8U-3, một quan chức của hải quân Mỹ đã tuyên bố: “Thời đại của chiến đấu cơ 1 chỗ ngồi đã kết thúc”.

Động cơ J79 khi đó vẫn còn vấn đề về luồng khói thải có thể được nhìn thấy từ khoảng cách 40 km, một vấn đề mà phải 2 thập niên sau mới được giải quyết dứt điểm.

Tuy nhiên, F-4 vẫn chính thức được bàn giao cho hải quân Mỹ, với thời hạn bảo hành 1.000 giờ, vào tháng 12/1960.

Chiếc chiến đấu cơ mạnh mẽ, có khả năng đạt vận tốc Mach 2, cùng với rất nhiều trang thiết bị điện tử này được kỳ vọng sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong tác chiến trên không.

Trước đó, những phi công của hải quân phải tự hài lòng với các mẫu chiến đấu cơ phản lực với tính năng hạn chế do phải thích ứng với điều kiện vận hành khắc nghiệt trên tàu sân bay.

Ví dụ như chiếc F3H, cũng của hãng McDonnell, chỉ có thể bay ở vận tốc hạ âm. Song với sự ra đời của F-4, những phi công hải quân lại được vận hành mẫu chiến đấu cơ hàng đầu thế giới.

Thử lửa tại Việt Nam

Quá trình làm quen với F-4 cũng không đơn giản. Phi công chính và phi công phụ phía sau, hay còn gọi là sĩ quan radar (RIO), phải phối hợp ăn ý với nhau.

Các phi công hải quân trước đó đã quen với việc độc lập tác chiến, vì vậy việc có thêm 1 đồng đội phía sau ban đầu được đón nhận khá dè dặt.

Tuy nhiên, thực tế tác chiến tại Việt Nam đã cho thấy lợi ích của RIO. “Chúng tôi phân công nhiệm vụ cho nhau, anh ấy đã giúp tôi tránh khỏi nhiều tình huống nguy hiểm.

Trong tác chiến, có rất nhiều tác vụ phải xử lý và tôi thực sự cần có sự hỗ trợ của người ngồi sau”, John Chesire, người đã có 197 phi vụ trong chiến tranh Việt Nam cho biết.

Nhưng tham chiến mà không có pháo lại là một vấn đề khác. “Đó là sai lầm lớn nhất khi thiết kế F-4” - Chesire nói. “Đạn rất rẻ và luôn đi đúng hướng mà bạn muốn. Tôi ước gì khi đó mình được trang bị pháo".

Một phi đội F-4 được tiếp nhiên liệu trên không trong chiến tranh Việt Nam
Một phi đội F-4 được tiếp nhiên liệu trên không trong chiến tranh Việt Nam

Phantom còn có một phiên bản đặc biệt dùng cho trinh sát, gọi là RF-4B, được trang bị camera chụp ảnh và cảm biến hồng ngoại. Mẫu máy bay trinh sát này hoạt động độc lập và không được vũ trang, vì vậy tốc độ cao chính là lớp bảo vệ quan trọng nhất của RF-4B.

Để camera có thể hoạt động tốt nhất, RF-4B buộc phải duy trì đường bay thẳng ở độ cao không đổi 1,5 km. Điều này khiến nó trở thành mục tiêu thường xuyên của hỏa lực phòng không từ mặt đất.

Tướng về hưu Jack Dailey, người từng bay hơn 250 phi vụ trinh sát bên trên đường mòn Hồ Chí Minh kể lại: “Ngày nào chúng tôi cũng phải hứng lưới lửa phòng không.”

Bản thân Dailey từng 9 lần bị trúng đạn từ mặt đất. Một viên đạn xuyên qua buồng lái và chỉ sượt qua Dailey trong gang tấc.

Trong một lần khác, chiếc RF-4B của ông bị trúng đạn nhiều đến mức sau khi hạ cánh, người ta có thể nhìn thấy ánh sáng chiếu xuyên qua những lỗ thủng trên thân máy bay.

Khả năng cung cấp sức đẩy tức thời của động cơ J79 giúp tăng độ an toàn khi hạ cánh trên tàu sân bay vì nó cho phép phi công ngay lập tức cất cánh trở lại nếu gặp vấn đề.

Chesire từng trải qua kinh nghiệm này trong một lần hạ cánh trên chiếc USS Midway. Ông mắc một sai lầm sơ đẳng khi vội giảm hết công suất cả 2 động cơ và ngay sau đó phát hiện ra rằng máy bay của mình chưa móc được vào cáp hãm của tàu.

Camera trên chiếc Midway ghi lại hình ảnh chiếc F-4 biến mất sau khi chạy hết đường băng, nhưng ngay sau đó bay vọt lên lại, với động cơ ở chế độ đốt hậu, nhờ Chesire kịp tăng công suất lên tối đa.

Phi đoàn số 497, đóng tại Ubon Ratchathani, Thái Lan, có biệt danh là “Cú đêm”, vì chuyên thực hiện các phi vụ về đêm.

Doug Joyce , một cựu phi công nhớ lại: “Khi lần đầu tiên đến doanh trại của phi đoàn, điều đầu tiên đập vào mắt tôi là mọi thứ đều được sơn đen”.

Đơn vị này ít khi tác chiến với số lượng đông như các phi vụ ban ngày. Các phi đội thường xuất kích với đội hình chỉ 2 chiếc.

Những chiếc F-4 của “Cú đêm” có phần bụng được sơn đen và được trang bị bom thông thường hoặc bom dẫn đường bằng laser cho các phi vụ đánh chặn mục tiêu trên bộ.

“Pháo phòng không 37 mm là mối đe dọa lớn nhất với chúng tôi,” Joyce cho biết.

Tuy nhiên, nhiệm vụ nguy hiểm nhất và chỉ dành cho những phi công lão luyện nhất của phi đoàn là hộ tống B-52 vào đánh phá Hà Nội. Joyce kể lại trải nghiệm cá nhân của mình:

“Thật là nghẹt thở. Ngay từ những giờ phút đầu tiên, mặc dù được sự yểm trợ của những phi đội diệt tên lửa đất đối không Wild Weasel, vẫn có hàng trăm tên lửa phóng về phía chúng tôi.

B-52 hoạt động ở độ cao gần với trần bay của F-4. Chúng tôi cũng tránh dùng chế độ đốt hậu vì luồng phản lực rất dễ bị phát hiện về đêm.

Và việc cơ động theo phương ngang cũng bị hạn chế khi bay theo đội hình với nhiều máy bay khác bên cạnh.”

Một trong những cách để che chắn B-52 trước radar phòng không là thả một số lượng lớn những dải kim loại mỏng để tạo thành những “đám mây” nhiễu.

Tuy nhiên, với những chiếc F-4 lãnh trách nhiệm này thì chúng lại gây tác dụng ngược, vì trên màn hình radar, những “đám mây” này sẽ hiển thị giống một mũi tên lớn mà đỉnh nhọn chính là chiếc F-4 đang thả những dải kim loại trên.

Chiến dịch bão táp sa mạc

Jim Schreiner từng là phi công lái A-10 trong một thời gian dài và chỉ còn một chuyến công tác nữa trước khi chuyển về một công việc bàn giấy vào năm 1990.

Ông đề xuất được lái F-16 hay F-15 nhưng lại được chỉ định lái 1 chiếc F-4G. “Tuy vẫn là 1 chiến đấu cơ nhưng nó không phải là điều tôi mong đợi,” Schreiner nhớ lại.

Hai mươi năm sau khi hơn 200 máy bay Mỹ bị bắn rơi bởi tên lửa đất đối không tại Việt Nam, những phi công như Schreiner tiếp tục lái phiên bản cải tiến của những chiếc F-4 Wild Weasel chuyên tìm diệt radar phòng không trong chiến dịch Bão táp sa mạc.

Tuy nhiên, kết quả lần này lại hoàn toàn trái ngược khi không có máy bay Mỹ nào bị tên lửa phòng không của Iraq bắn rơi.

Những chiếc F-4 Wild Weasel được trang bị hệ thống cảnh báo và định vị radar AN/APR-47.

Vị trí ghế lái phía sau được bổ sung thêm nhiều thiết bị. Nhưng trang bị đáng giá nhất là từ 2 đến 4 tên lửa diệt radar AGM-88, có khả năng dò theo tín hiệu radar của những giàn phóng tên lửa phòng không.

2 giờ sáng ngày đầu tiên của chiến dịch, Schreiner và phi công phụ Dan Sharp, đang bay trong đội hình 2 chiếc, phát hiện vị trí tên lửa phòng không của Iraq.

So với bộ đội tên lửa Việt Nam trước đây, lính Iraq chưa có kinh nghiệm đối phó với người Mỹ và luôn để các radar của mình vận hành ở mức công suất tối đa. Kết quả là những phi công như Schreiner có rất nhiều mục tiêu để lựa chọn.

Từ trong buồng lái của mình, Schreiner quan sát từng tên lửa AGM-88 tìm đến mục tiêu. Trên màn hình radar của chiếc Phantom, những các vị trí tên lửa đối phương dần biến mất.

Không quân Iraq cũng không phải là mối bận tâm. Những chiếc F-4 Wild Weasel được trang bị tên lửa không đối không AIM-7 Sparrow song chúng không bao giờ được sử dụng.

“Nếu thực sự có những mối đe dọa trên không thì cũng đã có những chiếc F-15 xử lý…Chúng tôi tiếp tục bay như vậy cho đến khi kết thúc cuộc chiến", Schreiner cho biết.

Cuộc gặp giữa Đại tướng Lê Đức Anh và ông Giang Trạch Dân

Cuộc gặp giữa Đại tướng Lê Đức Anh và ông Giang Trạch Dân
Cuộc gặp giữa Đại tướng Lê Đức Anh và ông Giang Trạch Dân

Cuối tháng 7/1991, Đại tướng Lê Đức Anh được Bộ Chính trị cử làm phái viên sang Trung Quốc bàn bạc những vấn đề cụ thể việc bình thường hoá quan hệ hai nước. Cuộc hội đàm chính thức diễn ra tại Trung Nam Hải vào buổi chiều ngày 31/7/1991.

Bài 1: Đại tướng Lê Đức Anh với vấn đề Trung Quốc và biển Đông

Bài 2: Dấu ấn Đại tướng với tuyến phòng thủ Trường Sa và cảng Cam Ranh

Nhìn lại nhiệm kỳ làm Bộ trưởng Quốc phòng của mình, Đại tướng Lê Đức Anh đã xúc tiến được mấy việc lớn:

Thăm dò và tiếp xúc mở luồng để lập lại quan hệ bình thường Việt-Trung, chấm dứt xung đột biên giới và 15 năm căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước láng giềng vốn có truyền thống hữu nghị.

Điều chỉnh bố trí chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước theo Đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong tình hình mới, tư duy mới của đất nước và quốc tế.

Giảm quân số thường trực và từ đó giảm gánh nặng ngân sách quốc phòng, góp phần tháo gỡ khó khăn ban đầu để nền kinh tế -xã hội có thêm điều kiện thoát ra khỏi khủng hoảng nghiêm trọng.

Củng cố thế bố trí bảo vệ quần đảo Trường Sa và giải quyết việc phi vũ khí hạt nhân ở bán đảo và quân cảng Cam Ranh và xúc tiến quan hệ để thu hồi Cam Ranh từ Liên bang Nga trước thời hạn của hiệp định.

Tuy nhiên hai việc sau (Trường Sa và Cam Ranh) còn kéo dài sang nhiệm kỳ Đại hội 7, tức là khi ông lên làm Chủ tịch nước thì mới xong hoàn toàn; nhưng ở nhiệm kỳ Bộ trưởng Quốc phòng đã làm được những phần rất cơ bản, sau đó chỉ là bước hoàn thiện mà thôi.

Thực chất khi làm việc, các vấn đề liên kết, ràng buộc, đan xen, chứ không mạch lạc từng phần từng việc như tôi kể ở trên đâu.

Tướng Anh thường tâm sự: “Đây là một bài toán cực kỳ khó, làm được mà trong nội bộ nhất trí cao là một thắng lợi, không nhất trí thì rất khó làm”.

Ngày 9/11/1993 tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh, Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân tổ chức lễ đón, chào mừng Chủ tịch nước Việt Nam Lê Đức Anh
Ngày 9/11/1993 tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh, Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân tổ chức lễ đón, chào mừng Chủ tịch nước Việt Nam Lê Đức Anh

Như vậy, trong nhiệm kỳ Đại hội 7 của Đảng ta; nhiệm kỳ mà tôi được trao trọng trách làm Chủ tịch nước, ở năm đầu nhiệm kỳ (1991) ta đã lập quan hệ bình thường với Trung Quốc, đến nửa cuối nhiệm kỳ, ta đã vận động và đấu tranh thắng lợi việc Mỹ xoá bao vây cấm vận và lập quan hệ bình thường với Việt Nam. Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN.

Nội địa có ổn định, thái bình, phên dậu biên ải có vững chãi thì dân và Nhà nước mới yên ổn làm ăn, kiến thiết tiến lên thịnh vượng.

Ý thức được điều này, cùng với việc xây dựng củng cố nội địa, tôi cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị rất chú tâm chỉ đạo công tác đối ngoại với các nước láng giềng để xây dựng, hoạch định đường biên giới trên bộ và việc phân định vùng biển và thềm lục địa trên tinh thần tích cực, kiên trì, tôn trọng luật pháp quốc tế, khi chưa thống nhất thì không làm phức tạp thêm tình hình để ảnh hưởng đến tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước.

Có nhiều việc, nhiều vấn đề nổi cộm, tôi đã nghiên cứu kỹ và chỉ đạo trực tiếp để các đồng chí bên Bộ Ngoại giao và Ban Biên giới Chính phủ nghiên cứu triển khai thực hiện; các đồng chí đó đã làm việc rất tốt, rất có hiệu quả…”.

Ông là Điểm Tựa Tinh Thần vững chắc của các thế hệ hôm nay

Những năm gần đây, Đại tướng Lê Đức Anh tuy tuổi đã rất cao, sức khỏe đã giảm, lại đã kinh qua hai lần tai biến xuất huyết não, nhưng đầu óc vẫn sáng suốt, tư duy mẫn tuệ; đặc biệt, tình cảm và trách nhiệm với những vấn đề có tầm chiến lược thuộc lĩnh vực an ninh - quốc phòng ở trong ông vẫn nguyên vẹn, đầy đặn và sắc sảo.

Xin lược kể đôi ví dụ nho nhỏ mà người viết bài này được trực tiếp diện kiến:

Dịp Tổng thống Mỹ Bush huy động quân đội nhiều nước tập trung đánh Cộng hòa Irak. Tổng thống Irak Hussein phát động cuộc “Thánh chiến” và lớn tiếng tuyên bố: “Quân đội Mỹ và các nước sẽ lâm vào thiên la địa võng; Bagdad sẽ là mồ chôn giành cho họ!”.

 Ngày 2/2/2015, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười cùng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đến dự lễ kỷ niệm 85 năm thành lập Đảng tại Hà Nội. Ảnh: Thủy Ngọc

Ngày 2/2/2015, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười cùng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đến dự lễ kỷ niệm 85 năm thành lập Đảng tại Hà Nội. Ảnh: Thủy Ngọc

Buổi sáng đó, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên phi xe đến với Đại tướng:

“Thưa Bác! Hẳn Bác theo dõi tin tức đã thấy, cuộc tiến công của ông Bush đã sang ngày thứ ba. Các mũi tiến công đã áp sát thủ đô Bagdad.

Rất nhiều nước trên thế giới đã lên tiếng. ở nước ta, sinh viên một số trường đại học đã tự phát các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh.

Dư luận quần chúng nhân dân đang đòi hỏi Chính phủ lên tiếng chính thức. Thực lòng với Bác, Bộ Ngoại giao của con đang băn khoăn cân nhắc, nói thế nào cho nó “chuẩn” đây?! Con xin Bác chỉ dạy cho đôi lời.”…

Trầm ngâm chừng nửa phút, rồi Đại tướng nói rành rẽ: “Đối với một chính phủ lúc cần thì họ huy động dân ủng hộ.

Khi có chính quyền vững rồi thì quay lưng lại với quyền lợi của người dân như chính quyền của Saddam Hussein; một khi Mỹ đã quyết đánh thì chỉ trong vòng mươi mười lăm ngày, hoặc sẽ đầu hàng, hoặc sẽ tan rã, sụp đổ.

Nên chừ, bên Ngoại giao có ý định phát biểu thì hãy nói, chỉ hai ý thôi: - Việt Nam ủng hộ nguyện vọng hòa bình của nhân dân Irak. Việt Nam cũng sẵn sàng đóng góp giúp nhân dân Irak khôi phục đất nước sau chiến tranh nhưng thông qua tổ chức của Liên Hợp quốc!”.

Ngay chiều hôm đó, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức họp báo. Và quả nhiên, sau đó một tuần lễ, quân đội Irak tan rã, chính phủ Hussein tháo chay…

Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nguyên lãnh đạo tại lễ kỷ niệm ngày thành lập Đảng năm 2015. Ảnh: Thủy Ngọc
Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nguyên lãnh đạo tại lễ kỷ niệm ngày thành lập Đảng năm 2015. Ảnh: Thủy Ngọc

Vấn đề tiếp theo là “chuyện ứng xử Biển Đông DOC”. Lúc đó Đại tướng nói:

- Tôi nay tuổi cao, Đảng và Nhà nước đã cho nghỉ dưỡng già. Các chú đừng nói là tôi “tư vấn” hay “chỉ đạo” gì cho to tát. Hỏi thì tôi nói những suy nghĩ của mình chỉ xem như một lời tâm sự thôi.

Vừa rồi cái DOC do Trung Quốc và Philippines bàn soạn với nhau; ta bị động chạy theo sau. Rút kinh nghiệm, tới đây làm COC thì Việt Nam phải có mặt trong Ban soạn thảo ngay từ đầu.

Chưa có COC, chưa ký kết nhưng hàng ngày các nước vẫn phải “ứng xử” với nhau sao cho êm thấm và cùng có lợi. Vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của ta, ta tổ chức khai thác.

Nếu làm không xuể thì nơi ta mời hợp tác đầu tiên phải là Trung Quốc. Làm không xuể nữa thì mời trong khối ASEAN, rồi mới mời ra các nước khác.

Nhưng có một điều bên Ngoại giao phải luôn nhớ, là chừng nào ta chưa đòi lại được Hoàng Sa thì năm nào cũng phải nhắc lên, nói lên “Hoàng Sa là của Việt Nam!” ít nhất là vài lần.

Vì theo thông lệ quốc tế, họ đã lấy của mình mà 9 năm liền mình mần thinh, không nói gì, thì đảo đó nghiễm nhiên sẽ thuộc chủ quyền của họ.

Đại tướng Lê Đức Anh đã bước sang tuổi 95. Cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Ban, ngành, đoàn thể, các nhân sỹ và con cháu thấy sức khỏe của Đại tướng vẫn dẻo, mẫn tiệp, thì ai cũng yên lòng và mừng vui.

Bởi Đại tướng vừa là Nhân chứng Lịch sử, vừa là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho các lớp cán bộ lãnh đạo và cho mỗi người dân yêu Tổ quốc chúng ta!

Cuối tháng 7/1991, Đại tướng Lê Đức Anh được Bộ Chính trị cử làm phái viên sang Trung Quốc bàn bạc những vấn đề cụ thể việc bình thường hoá quan hệ hai nước. Cuộc hội đàm chính thức diễn ra tại Trung Nam Hải vào buổi chiều ngày 31/7/1991.

Xin trích, ghi ra đây một số đoạn trong lời phát biểu của hai Trưởng đoàn tại cuộc hội đàm này (Tài liệu lưu trữ tại Phòng Lưu trữ Văn phòng Chủ tịch nước):

Tổng bí thư Giang Trạch Dân: Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà.

Tháng 9 năm ngoái đồng chí Nguyễn Văn Linh, đồng chí Đỗ Mười đến làm việc ở Thành Đô, đồng chí Hồng Hà cũng có mặt.

Hôm nay được dịp quen biết đồng chí Lê Đức Anh, tôi rất phấn khởi. Đồng chí đã hội đàm rất tốt với đồng chí Kiều Thạch. Đồng chí Lý Bằng đã gặp đồng chí. 1 giờ sáng nay tôi mới ở địa phương về đến Bắc Kinh.

Hôm nay rất phấn khởi được gặp đồng chí. Theo tập quán của chúng tôi, xin mời đồng chí nói trước.

Đại tướng Lê Đức Anh: Tôi rất phấn khởi được gặp đồng chí Tổng bí thư. Tôi biết đồng chí rất bận nhưng vẫn giành thì giờ tiếp chúng tôi, chứng tỏ đồng chí rất quan tâm.

Rất cám ơn đồng chí! Tôi xin chuyển lời thăm hỏi và chúc sức khoẻ của đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười, các đồng chí Cố vấn Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công tới đồng chí và nhờ đồng chí chuyển lời thăm hỏi đó tới đồng chí Đặng Tiểu Bình, các đồng chí lãnh đạo khác của Trung Quốc.

Đảng chúng tôi cử hai đồng chí chúng tôi sang thăm và làm việc ở Trung Quốc. Chúng tôi rất phấn khởi thấy được thành tựu mười năm cải cách của các đồng chí. Điều đó cổ vũ rất lớn Đảng và nhân dân chúng tôi.

Về công việc, chúng tôi đã thông báo về Đại hội VII, đã kiểm điểm việc thực hiện những thoả thuận ở Thành Đô cả về Đảng và Nhà nước xem việc gì làm được, việc gì chưa làm được.

Tôi đã nêu tất cả với đồng chí Kiều Thạch. Hôm qua chúng tôi được đồng chí Lý Bằng tiếp và cho phương hướng giải quyết những vấn đề thuộc Nhà nước. Chúng tôi rất phấn khởi.

Hôm nay gặp đồng chí Tổng bí thư, xin đề nghị đồng chí Tổng bí thư cho ý kiến về những mong muốn của Đảng chúng tôi, về việc Đoàn cấp cao Đảng và Nhà nước chúng tôi do đồng chí Đỗ Mười dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc mở đầu trang sử mới trong quan hệ giữa hai Đảng, hai nước sau hơn mười năm trắc trở.

Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười, Bộ Chính trị và ba đồng chí Cố vấn mong rằng sự kiện đó sẽ được thực hiện trong năm 1991 này. Được như thế thì rất đáng phấn khởi không chỉ đối với lãnh đạo mà cả đối với toàn Đảng, toàn dân chúng tôi.

Từ nay đến khi có cuộc gặp cấp cao đó, đề nghị với đồng chí Tổng bí thư là các ban của hai Đảng gặp nhau trao đổi kinh nghiệm xây dựng Đảng, kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trước hết chúng tôi mời đoàn Ban Đối ngoại Trung ương Đảng của Trung Quốc sang làm việc với Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Việt Nam.

Chúng tôi đề nghị các đoàn thể, các Hội hữu nghị Việt-Trung và Trung-Việt trao đổi kinh nghiệm, tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Gặp đồng chí, tôi có mấy ý kiến như thế, mong đồng chí cho ý kiến.

Giang Trạch Dân: Hôm nay được gặp đồng chí, tôi bỗng nhớ lại ngày 3 và 4 tháng 9-1990, những ngày gặp đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười.

Sau cuộc gặp gỡ lần đó, đôi bên có nhiều cố gắng thực hiện thoả thuận ở Thành Đô.

Nhưng do tình hình thay đổi và vì rất nhiều lý do, rất nhiều nguyên nhân khác, chúng ta chưa làm được hết, nhưng phương hướng chung có tiến triển. Hôm qua tôi đã đọc thư đồng chí Đỗ Mười gửi cho chúng tôi.

Chúng ta là hai đảng cầm quyền. Hôm nay tôi xin nói thẳng thắn.

Sáng nay tôi gặp đồng chí Lý Bằng, đồng chí Kiều Thạch và nhiều đồng chí ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khác, chúng tôi đã bàn với nhau và chúng tôi hoan nghênh Đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Nhà nước Việt Nam do đồng chí Đỗ Mười dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc năm nay.

Tôi rất đồng ý với ý kiến đồng chí Lê Đức Anh, các cơ quan của hai Đảng, qua lại trao đổi ý kiến với nhau. Ban Đối ngoại Trung Quốc sang thăm Việt Nam trước. Hôm qua đồng chí Lý Bằng đã trao đổi ý kiến với các đồng chí rất tốt. ý kiến chúng ta nhất trí với nhau.

Vì chúng ta là những người cộng sản, tôi nói theo nhận thức, theo quan điểm của đảng chúng tôi. Tình hình thế giới bây giờ rất phức tạp. Tôi biết đồng chí Lê Đức Anh hiểu biết hơn tôi về quân sự.

Đồng chí là Bộ trưởng Quốc phòng, tôi là Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Đồng chí vào Trung ương làm việc ở Trung ương sớm hơn tôi.

Tôi nói thẳng thắn, tôi giữ chức Tổng bí thư từ ngày 24-6-1989, từ đó đến nay, tôi không ngờ tình hình Đông Âu biến động và Liên Xô rối ren đến như vậy.

Chúng ta là những người cộng sản, phải thực sự cầu thị. Hiện nay xã hội chủ nghĩa đang thoái trào.

Tình hình ngày nay khác tình hình khi nước chúng tôi giải phóng và khi nước các đồng chí được giải phóng. Nhưng chúng ta là những nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải khẳng định chủ nghĩa xã hội sẽ thắng lợi.

Đồng chí phải thấy đây là quá trình đấu tranh hết sức gian khổ. Cho nên chúng ta là hai nước láng giềng, hai đảng cộng sản cầm quyền, không có lí do gì không xây dựng quan hệ láng giềng hữu hảo với nhau.

Từ sự đột biến ở Đông Âu và qua 25 tháng tôi công tác ở Trung ương, tôi nhận thức được rằng kiên trì xã hội chủ nghĩa là rất quan trọng.

Các nước phương Tây lúc nào cũng muốn xoá chủ nghĩa xã hội khỏi trái đất này. Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhân dân Trung Quốc đánh đổ chính quyền Quốc Dân Đảng giành chính quyền.

Chúng tôi xây dựng đất nước, không bao lâu, chúng tôi phải chống Mỹ viện Triều, sau đó chúng tôi cũng tham gia cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của các đồng chí.

Cho nên phương Tây, nhất là Mỹ qua hai lần đọ sức bằng phương thức chiến tranh, chúng không xóa được chủ nghĩa xã hội của chúng ta.

Bọn chúng dùng biện pháp "diễn biến hoà bình" của Ngoại trưởng Mỹ Đa-lét, để đối phó với chủ nghĩa xã hội, đối phó với bức màn sắt- như Nixơn đã viết cuốn "Không đánh mà thắng".

Cả Nixơn và Brêdinxki đều nhận định: Chủ nghĩa cộng sản- Chủ nghĩa xã hội sẽ bị tiêu diệt trên trái đất này. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời.

Năm 1985 Nixơn đi Đông Âu. Sau khi về Nixơn dự đoán không bao lâu nữa Đông Âu sẽ có thay đổi lớn. Tình hình không may đã diễn ra đúng như Nixơn dự đoán.

Tháng 5-1991, trước khi tôi đi Liên Xô, Nixơn vừa đến Liên Xô trước đó 2 tuần. Thái độ của các nước phương Tây đối với việc viện trợ cho Liên Xô khác nhau.

Đức, Pháp giữ lợi ích của Châu Âu. Mỹ, Nhật thái độ rất rõ ràng- Nixơn nói "Liên Xô phải triệt để đầu hàng, hạ vũ khí, phải quá độ sang tư bản chủ nghĩa bằng con đường hoà bình thì mới viện trợ, nếu không thì không viện trợ.

Đối với âm mưu lật đổ, chúng có pháp bảo: Dùng chế độ đa đảng để lật đổ Đảng".

Chúng tôi rất cảnh giác chế độ đa đảng. Về mặt này chúng tôi kiên quyết chống hoạt động đa đảng. Quả thật như thế, En-xin vừa lên Tổng thống Cộng hoà Liên bang Nga liền thủ tiêu các cơ sở đảng ở cơ quan, xí nghiệp.

En-xin đã từng là ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Đảng cộng sản Liên Xô. Nghe tin này như người Trung Quốc nói "Xúc mục kinh tâm"- Những điều trông thấy khiến ta giật mình.

Hiện nay các nước phương Tây muốn dùng chiêu bài dân chủ, tự do, nhân quyền để thực hiện diễn biến hoà bình. Mỗi năm chúng tôi triệu tập đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc một lần.

Tôi đã dự hội nghị đó hai lần. Quan điểm của tôi là, Đại hội đại biểu nhân dân là của dân, không đi theo con đường nghị viện kiểu phương Tây. Chúng tôi cũng có 8 đảng nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không cho phép đảng đối lập.

Chúng tôi có tổ chức Hiệp thương chính trị, các đảng hợp tác với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Những đại biểu Quốc hội toàn quốc, phát biểu ở Quốc hội, anh không phải với tư cách nghị sỹ, với tư cách thay mặt một đảng nào khác mà là tư cách đại biểu của nhân dân.

Sau khi giải phóng đất nước, ở chúng tôi xuất hiện Đảng Dân chủ, họ đòi luân phiên tham gia nắm quyền với Đảng chúng tôi.

Về mặt này Mao Chủ tịch rất nhạy bén. Người đã phát động cuộc đấu tranh chống phái hữu. Phương hướng là đúng nhưng trong đấu tranh thiếu sót ở chỗ đã mở rộng quá mức.

Chúng tôi bây giờ hết sức cảnh giác với tư tưởng luân phiên nắm chính quyền. Điều đó đáng sợ không phải là có tồn tại hay không tồn tại vấn đề đó mà là ở chỗ đảng có kiên quyết chống tư tưởng đó, có cảnh giác với âm mưu đó hay không. Nếu biết cảnh giác, có biện pháp, không sợ gì cả...

Đồng chí Chu Sỹ Lương (Trưởng ban Đối ngoại) đã từng hoạt động ở Thượng Hải đã thấy cảnh Quốc Dân Đảng cưỡi ngựa đàn áp thanh niên học sinh và những người cộng sản. Tôi nhớ rất rõ cảnh đó.

Điều thứ hai tôi nhận thức được đó là quân đội nhân dân phải tuyệt đối đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quân đội là cây súng, hình thái ý thức là cây bút. Với tư cách quân đội, đồng chí Lê Đức Anh lâu năm hơn tôi.

Tôi làm nghề nào mới học nghề ấy. Tôi vừa đi hơn 20 tỉnh và thành phố trong tổng số 30 tỉnh thành. Tôi đã đi 18 quân khu. Trước đây tôi chưa được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Sau khi được bầu tôi thường xuyên đi thăm các quân khu. Đồng chí Lê Đức Anh hiểu tầm quan trọng của cây súng hơn tôi.

Cây bút cũng rất quan trọng. Về tuyên truyền quả thật phải không ngừng cải tiến phương pháp tuyên truyền. Mục đích của tuyên truyền là đi sâu vào lòng người.

Nếu ta chỉ theo cách cũ cứng nhắc không được. Tuyên truyền phải sống động, hoạt bát, không thế sẽ không có kết quả tốt. Về phương thức, về công tác tư tưởng, phải tính đến sự phát triển của khoa học kỹ thuật.

Ti vi hết sức quan trọng. Hiện nay ti vi rất phổ biến ở thành phố. Hàng ngày dân chúng cứ nghe, nhìn, rồi qua tai, mắt, nếu chúng ta không có năng lực phân tích sẽ hấp thụ những điều dở.

Mao Chủ tịch đã nói: Nếu tư tưởng vô sản không chiếm lĩnh, tư tưởng tư sản sẽ chiếm lĩnh.

Chúng tôi tiến hành "Tảo hoàng" (quét sạch những văn hóa đồi trụy), chúng tôi kiên quyết làm. Phải chống lại những văn hoá màu vàng. Trừ hủ bại. Đứng về ý nghĩa chính trị, việc quét này không thành vấn đề gì. Việc này ở phương Tây cũng không thể không chống.

Đĩ điếm, cờ bạc, ma túy họ cũng phải chống. Tôi đã nói với phương Tây, với Nixơn tôi đã tiêu diệt những điều đó và đó là niềm tự hào của chúng tôi. Nay với đồng chí tôi nói thật, vẫn còn tồn tại những cái đó ở Trung Quốc, nhưng chúng tôi có thái độ kiên quyết chống nó, bài trừ nó.

Chúng ta kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản. Chống tư sản không chỉ chống văn hoá màu vàng.

Phải chống cả tự do hoá tư sản. Đứng về góc độ phiên dịch chắc khó dịch diễn đạt hết hàm ý của nội dung này.

Nội dung chống này bao gồm việc chống lại tất cả những tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội, chống những sự thối tha đồi trụy của tư sản.

Còn đối với những kỹ thuật tiên tiến, cách quản lý khoa học, văn hoá ưu tú của tư sản chúng ta lại phải học tập.

Chúng tôi có chuyển hướng cải cách mở cửa, khuyến khích nước ngoài đầu tư nhưng phải tôn trọng pháp luật...

Trên tôi đã giới thiệu tóm tắt nhận thức của cá nhân tôi. Tôi tin rằng chuyến đi thăm của đồng chí thúc đẩy việc tiến tới bình thường hoá quan hệ hai đảng, hai nước.

Qua đồng chí xin gửi lời thăm tốt đẹp tới đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười, các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng và các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tuy rằng đồng chí Nguyễn Văn Linh làm cố vấn nhưng đồng chí đó đã để lại ấn tượng sâu sắc cho chúng tôi.

Chúng ta còn dịp vừa ăn cơm vừa nói chuyện (Đồng chí Giang Trạch Dân liền đọc một câu thơ rồi nói tiếp):

Tôi rất phấn khởi được gặp đồng chí. Hôm nay là bước mở đầu tốt đẹp của chúng ta.

Cuộc đàm đạo được nối tiếp trong buổi chiêu đãi ngay tối hôm đó, 31-7-1991 cũng tại Trung Nam Hải.

Giang Trạch Dân: ...Chúng ta đang đứng trước những vấn đề phức tạp hơn khi đất nước mới giải phóng. Khả năng lãnh đạo của từng cá nhân thế hệ cũ lớn hơn những người mới.

Chúng tôi phải dựa vào các đồng chí cũ. Lãnh đạo hành chính điều quan trọng là phải dựa vào sự nhất trí. Trung Quốc có câu "Ba anh thợ da bằng một Gia Cát Lượng". Tôi cũng nhớ một câu nói nổi tiếng: "Sợ nhất lô cốt bị phá từ trong phá ra".

Năm nay xảy ra thiên tai lớn, nhiều năm chưa từng xảy ra nhưng chúng tôi tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng nhất định khắc phục được hậu quả. Chúng tôi vẫn lấy nông nghiệp làm cơ sở.

Nói thật với đồng chí, Trung Quốc giải phóng đã hơn 40 năm. Hễ cứ được mùa hai năm liền là lại coi nhẹ nông nghiệp. Mao Chủ tịch nói "Trong tay có lương thực, trong lòng không hoang mang", "Dân dĩ thực vi tiên".

Rất may, mấy năm liền Trung Quốc được mùa, dự trữ còn nhiều, không bị chấn động. Gặp thiên tai, chúng tôi không ngờ yếu tố tinh thần tốt như vậy.

Điều đó thể hiện nhân dân tin tưởng vào Đảng Cộng sản, vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

Vấn đề này không giải quyết tư tưởng bằng báo cáo, phải bằng thực tiễn hành động.

Nước lũ đến, Bí thư Đảng ủy xã đã đứng ra hàng đầu lo chống lũ, bà con rút đi hết, Bí thư là người rút cuối cùng. Những hành động thực tế đó lớn hơn nhiều lần báo cáo, hành động có sức thuyết phục lớn nhất.

Bây giờ trước tình hình Trung Quốc gặp thiên tai, bà con Hoa kiều, số người có gốc Hoa ở các nước và rất nhiều nước quan tâm, nhưng cũng có nước hí hửng về việc đó.

Bọn này tính toán chờ thời cơ hành động. Bọn này đã rút ra những bài học.

Dựa vào học sinh, sinh viên tạo phản 3 năm không thành. Nay muốn đột phá vào cơ quan Đảng, Chính phủ, Quân đội. Phu-xích viết trong "Dưới giá treo cổ" có một câu nói tôi mãi mãi không quên.

Phu-xích bị bọn phản bội bán rẻ, bị bắt và đã nói khi bị hành hình: "Nhân dân ơi! Tôi yêu nhân dân nhưng nhân dân đừng quên cảnh giác!" ý này rất hay, chúng ta phải luôn luôn cảnh giác.

Tôi hiểu rằng kinh nghiệm của đồng chí Lê Đức Anh rất phong phú. Các nước phương Tây bắt đầu tính toán đến vấn đề rất nghiêm trọng đối với chúng ta và vấn đề giáo dục thanh niên. Thanh niên dễ tiếp thu văn minh phương Tây.

Tiếp thu kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của phương Tây, chúng ta không phản đối.

Tôi thường xuyên có quan điểm tiếp thu những văn hoá ưu tú phương Tây. Nhưng phải làm cho thanh niên thấy nhân dân ta đã từng bị áp bức của các cường quốc...

Bắt đầu từ năm nay, chương trình giáo dục cấp 1 của chúng tôi có phần giáo dục tình hình đất nước, có phần lịch sử cận đại vì thế hệ chúng tôi sớm muộn cũng đi gặp Các Mác nên chính quyền sau này rơi vào tay ai không thể không suy nghĩ.

Tôi xin nói thẳng với đồng chí và nói nhiều vì lần đầu gặp đồng chí nhưng cảm thấy như người bạn lâu năm.

Lê Đức Anh: Khi ở chiến trường, tôi thấy rõ sự giúp đỡ của Trung Quốc. Tất nhiên có cả Liên Xô.

Nhưng sự giúp đỡ của Trung Quốc cụ thể, thiết thực: Súng B40, lương khô, mũ cối, thuốc xoa chống muỗi, chống vắt v.v… Trong chống Mỹ, cứu nước, các đồng chí đã viện trợ toàn diện cho Việt Nam.

Giang Trạch Dân: Đó là việc cần làm.

Lê Đức Anh: Bây giờ Trung Quốc hơn 1 tỷ dân, đang tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản, đó là viện trợ to lớn nhất, không thể đánh giá hết được.

Giang Trạch Dân: Tôi đã nghe thông báo về Đại hội VII. Thấy các đồng chí kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa , kiên trì chủ nghĩa Mác Lê-nin, tự đáy lòng tôi thấy rất phấn khởi.

Lê Đức Anh: Về quốc tế, đồng chí nói gọn đủ, tôi tiếp thu lập trường quan điểm của các đồng chí, điều đó làm tăng niềm tin ở tương lai xã hội chủ nghĩa đối với chúng tôi.

Trong thời điểm này, Trung Quốc đóng vai trò cực kỳ to lớn trước sự tồn vong, còn hay mất của chủ nghĩa xã hội, của phong trào độc lập dân tộc trên thế giới. Đó là nhận thức sâu sắc của chúng tôi.

Về phía Việt Nam chúng tôi kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa . Tất nhiên không cần lập mặt trận chống ai, nhưng Trung Quốc ổn định, vững, là niềm cổ vũ lớn cho phong trào cộng sản quốc tế.

Trở về Việt Nam. Ngày 3 tháng 8 năm 1991, tại cuộc họp Bộ Chính trị, sau khi tôi báo cáo kết quả chuyến đi Trung Quốc, các thành viên dự họp phát biểu sôi nổi và đồng nhất đánh giá chuyến đi đạt kết quả tốt và nhất trí mấy việc cần làm là:

- Thông báo về kết quả chuyến đi này với Liên Xô, Lào và Campuchia. (Trong đó có ý kiến của Cố vấn Phạm Văn Đồng: Không để các đồng chí Campuchia nghi ngờ mình, nghĩ mình mua bán với Trung Quốc trên lưng họ.

Có thể cho các đồng chí Campuchia biết cả biên bản, sòng phẳng; để các đồng chí Campuchia rõ chuyến đi chỉ có hai vấn đề:

Thông báo kết quả Đại hội VII và bàn bình thường hóa quan hệ, không có bàn kèm theo vấn đề Campuchia.

Để các đồng chí đó thấy rõ thắng lợi chuyến thăm Trung Quốc là thắng lợi chung của Việt Nam và Campuchia, góp phần giải quyết vấn đề Campuchia).

- Thông báo về chuyến đi trong nội bộ Đảng và báo cáo với Quốc hội.

- Triển khai các công việc cần thiết trước mắt, nhất là các cơ quan chức năng như Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương và Thủ tướng Chính phủ để xúc tiến các bước trong tiến trình thực hiện bình thường hoá quan hệ Việt-Trung.

- Giang Trạch Dân: Quan hệ quốc gia với quốc gia, chúng tôi theo 5 nguyên tắc chung sống hoà bình- mấu chốt nhất là không can thiệp vào nội bộ của nhau. Còn giải quyết quan hệ Đảng với Đảng- chúng tôi theo 4 nguyên tắc- mấu chốt cũng là không can thiệp vào nội bộ nhau.

Người ta ai cũng mong muốn người trong họ hàng của mình tốt lên. Láng giềng cũng muốn láng giềng của mình tốt hơn.

Như tôi đã nói đứng trước tình hình quốc tế hiện nay, xã hội chủ nghĩa đang thoái trào, những nhà nước do Đảng Cộng sản cầm quyền không còn bao nhiêu. Nên tự đáy lòng tôi hết sức tán thưởng đường lối Đại hội VII Việt Nam...

Đối với chúng ta phải kiên trì sự lãnh đạo của Đảng. Trong kinh tế, sở hữu nhiều thành phần nhưng phải lấy công hữu làm cơ sở.

Đó là những điều tâm huyết của tôi. Lần đầu tiên được gặp đồng chí, tôi rất thú vị, nói hết lời.

Lê Đức Anh: Lần đầu tiên gặp đồng chí Tổng bí thư Giang Trạch Dân, tôi thấy rất thân tình.

Những lời nói từ đáy lòng đồng chí nói ra được thể hiện cụ thể ở những nơi tôi đến tham quan: xã Tứ Quý Thanh, Công ty gang thép Thủ Đô …

Giang Trạch Dân: Đồng chí lớn tuổi hơn tôi, làm việc lâu năm hơn tôi, kinh nghiệm phong phú hơn tôi.

Lê Đức Anh: Chúng tôi ở nước nhỏ, tầm nhìn hẹp.

Giang Trạch Dân: Trung Quốc có câu nói "Con chim chích tuy nhỏ nhưng gan mật đều có". Tôi chủ trương bố trí cho cán bộ công tác ở cơ sở rồi mới điều lên trên, như vậy mới tốt.

Về quân sự, đối với tôi là ngoại ngạch. Bây giờ không phải tôi đi học bắn súng mà học xây dựng quân đội, xây dựng chiến lược của chúng tôi.

Chúng tôi phải xây dựng chiến lược phòng ngự vì không có ý xâm lược ai. Chúng tôi phải tăng cường xây dựng quốc phòng.

Bây giờ tình hình thế giới thay đổi nhanh. Có một điểm cần nghiên cứu về ý thức của Lênin: Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản dãy chết. Vì sao nó chưa chết? Nó rút kinh nghiệm.

Ta cũng phải tổng kết kinh nghiệm cách mạng thế giới. Làm sao phải xây dựng tốt nhà nước xã hội chủ nghĩa của mình. Nói thật với các đồng chí, cuộc cải cách mở cửa do đồng chí Đặng Tiểu Bình đề ra thu được nhiều thành tích to lớn, nhưng kinh tế vẫn còn kém.

Chúng tôi phải quyết tâm phát triển kinh tế, có phát triển mới có quyền phát triển. Có điều có thể khẳng định: Kinh tế phát triển, tài lực phong phú, chúng tôi cũng không xâm lược ai.

Phải ổn định chính trị mới phát triển kinh tế được. Chúng tôi muốn có hoà bình để làm tốt công tác kinh tế.

Nhưng điều đó hoàn toàn không phải do một mình chúng tôi quyết định được. Chúng tôi phải hết sức cố gắng.

Trời không chiều ý người nên chúng ta phải chuẩn bị đầy đủ mọi mặt, như thế tốt hơn chỉ nghĩ tới một mặt.

Tối hôm nay rất phấn khởi được làm quen với đồng chí, một lần lạ, lần sau quen. Chúc đồng chí một chuyến đi tốt đẹp (ông Giang dùng tiếng Pháp: "Bon voyage").

Cuộc gặp giữa Đại tướng Lê Đức Anh và ông Giang Trạch Dân
Cuộc gặp giữa Đại tướng Lê Đức Anh và ông Giang Trạch Dân

Cuối tháng 7/1991, Đại tướng Lê Đức Anh được Bộ Chính trị cử làm phái viên sang Trung Quốc bàn bạc những vấn đề cụ thể việc bình thường hoá quan hệ hai nước. Cuộc hội đàm chính thức diễn ra tại Trung Nam Hải vào buổi chiều ngày 31/7/1991.

Bài 1: Đại tướng Lê Đức Anh với vấn đề Trung Quốc và biển Đông

Bài 2: Dấu ấn Đại tướng với tuyến phòng thủ Trường Sa và cảng Cam Ranh

Nhìn lại nhiệm kỳ làm Bộ trưởng Quốc phòng của mình, Đại tướng Lê Đức Anh đã xúc tiến được mấy việc lớn:

Thăm dò và tiếp xúc mở luồng để lập lại quan hệ bình thường Việt-Trung, chấm dứt xung đột biên giới và 15 năm căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước láng giềng vốn có truyền thống hữu nghị.

Điều chỉnh bố trí chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước theo Đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong tình hình mới, tư duy mới của đất nước và quốc tế.

Giảm quân số thường trực và từ đó giảm gánh nặng ngân sách quốc phòng, góp phần tháo gỡ khó khăn ban đầu để nền kinh tế -xã hội có thêm điều kiện thoát ra khỏi khủng hoảng nghiêm trọng.

Củng cố thế bố trí bảo vệ quần đảo Trường Sa và giải quyết việc phi vũ khí hạt nhân ở bán đảo và quân cảng Cam Ranh và xúc tiến quan hệ để thu hồi Cam Ranh từ Liên bang Nga trước thời hạn của hiệp định.

Tuy nhiên hai việc sau (Trường Sa và Cam Ranh) còn kéo dài sang nhiệm kỳ Đại hội 7, tức là khi ông lên làm Chủ tịch nước thì mới xong hoàn toàn; nhưng ở nhiệm kỳ Bộ trưởng Quốc phòng đã làm được những phần rất cơ bản, sau đó chỉ là bước hoàn thiện mà thôi.

Thực chất khi làm việc, các vấn đề liên kết, ràng buộc, đan xen, chứ không mạch lạc từng phần từng việc như tôi kể ở trên đâu.

Tướng Anh thường tâm sự: “Đây là một bài toán cực kỳ khó, làm được mà trong nội bộ nhất trí cao là một thắng lợi, không nhất trí thì rất khó làm”.

Ngày 9/11/1993 tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh, Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân tổ chức lễ đón, chào mừng Chủ tịch nước Việt Nam Lê Đức Anh
Ngày 9/11/1993 tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh, Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân tổ chức lễ đón, chào mừng Chủ tịch nước Việt Nam Lê Đức Anh

Như vậy, trong nhiệm kỳ Đại hội 7 của Đảng ta; nhiệm kỳ mà tôi được trao trọng trách làm Chủ tịch nước, ở năm đầu nhiệm kỳ (1991) ta đã lập quan hệ bình thường với Trung Quốc, đến nửa cuối nhiệm kỳ, ta đã vận động và đấu tranh thắng lợi việc Mỹ xoá bao vây cấm vận và lập quan hệ bình thường với Việt Nam. Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN.

Nội địa có ổn định, thái bình, phên dậu biên ải có vững chãi thì dân và Nhà nước mới yên ổn làm ăn, kiến thiết tiến lên thịnh vượng.

Ý thức được điều này, cùng với việc xây dựng củng cố nội địa, tôi cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị rất chú tâm chỉ đạo công tác đối ngoại với các nước láng giềng để xây dựng, hoạch định đường biên giới trên bộ và việc phân định vùng biển và thềm lục địa trên tinh thần tích cực, kiên trì, tôn trọng luật pháp quốc tế, khi chưa thống nhất thì không làm phức tạp thêm tình hình để ảnh hưởng đến tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước.

Có nhiều việc, nhiều vấn đề nổi cộm, tôi đã nghiên cứu kỹ và chỉ đạo trực tiếp để các đồng chí bên Bộ Ngoại giao và Ban Biên giới Chính phủ nghiên cứu triển khai thực hiện; các đồng chí đó đã làm việc rất tốt, rất có hiệu quả…”.

Ông là Điểm Tựa Tinh Thần vững chắc của các thế hệ hôm nay

Những năm gần đây, Đại tướng Lê Đức Anh tuy tuổi đã rất cao, sức khỏe đã giảm, lại đã kinh qua hai lần tai biến xuất huyết não, nhưng đầu óc vẫn sáng suốt, tư duy mẫn tuệ; đặc biệt, tình cảm và trách nhiệm với những vấn đề có tầm chiến lược thuộc lĩnh vực an ninh - quốc phòng ở trong ông vẫn nguyên vẹn, đầy đặn và sắc sảo.

Xin lược kể đôi ví dụ nho nhỏ mà người viết bài này được trực tiếp diện kiến:

Dịp Tổng thống Mỹ Bush huy động quân đội nhiều nước tập trung đánh Cộng hòa Irak. Tổng thống Irak Hussein phát động cuộc “Thánh chiến” và lớn tiếng tuyên bố: “Quân đội Mỹ và các nước sẽ lâm vào thiên la địa võng; Bagdad sẽ là mồ chôn giành cho họ!”.

 Ngày 2/2/2015, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười cùng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đến dự lễ kỷ niệm 85 năm thành lập Đảng tại Hà Nội. Ảnh: Thủy Ngọc

Ngày 2/2/2015, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười cùng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đến dự lễ kỷ niệm 85 năm thành lập Đảng tại Hà Nội. Ảnh: Thủy Ngọc

Buổi sáng đó, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên phi xe đến với Đại tướng:

“Thưa Bác! Hẳn Bác theo dõi tin tức đã thấy, cuộc tiến công của ông Bush đã sang ngày thứ ba. Các mũi tiến công đã áp sát thủ đô Bagdad.

Rất nhiều nước trên thế giới đã lên tiếng. ở nước ta, sinh viên một số trường đại học đã tự phát các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh.

Dư luận quần chúng nhân dân đang đòi hỏi Chính phủ lên tiếng chính thức. Thực lòng với Bác, Bộ Ngoại giao của con đang băn khoăn cân nhắc, nói thế nào cho nó “chuẩn” đây?! Con xin Bác chỉ dạy cho đôi lời.”…

Trầm ngâm chừng nửa phút, rồi Đại tướng nói rành rẽ: “Đối với một chính phủ lúc cần thì họ huy động dân ủng hộ.

Khi có chính quyền vững rồi thì quay lưng lại với quyền lợi của người dân như chính quyền của Saddam Hussein; một khi Mỹ đã quyết đánh thì chỉ trong vòng mươi mười lăm ngày, hoặc sẽ đầu hàng, hoặc sẽ tan rã, sụp đổ.

Nên chừ, bên Ngoại giao có ý định phát biểu thì hãy nói, chỉ hai ý thôi: - Việt Nam ủng hộ nguyện vọng hòa bình của nhân dân Irak. Việt Nam cũng sẵn sàng đóng góp giúp nhân dân Irak khôi phục đất nước sau chiến tranh nhưng thông qua tổ chức của Liên Hợp quốc!”.

Ngay chiều hôm đó, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức họp báo. Và quả nhiên, sau đó một tuần lễ, quân đội Irak tan rã, chính phủ Hussein tháo chay…

Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nguyên lãnh đạo tại lễ kỷ niệm ngày thành lập Đảng năm 2015. Ảnh: Thủy Ngọc
Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nguyên lãnh đạo tại lễ kỷ niệm ngày thành lập Đảng năm 2015. Ảnh: Thủy Ngọc

Vấn đề tiếp theo là “chuyện ứng xử Biển Đông DOC”. Lúc đó Đại tướng nói:

- Tôi nay tuổi cao, Đảng và Nhà nước đã cho nghỉ dưỡng già. Các chú đừng nói là tôi “tư vấn” hay “chỉ đạo” gì cho to tát. Hỏi thì tôi nói những suy nghĩ của mình chỉ xem như một lời tâm sự thôi.

Vừa rồi cái DOC do Trung Quốc và Philippines bàn soạn với nhau; ta bị động chạy theo sau. Rút kinh nghiệm, tới đây làm COC thì Việt Nam phải có mặt trong Ban soạn thảo ngay từ đầu.

Chưa có COC, chưa ký kết nhưng hàng ngày các nước vẫn phải “ứng xử” với nhau sao cho êm thấm và cùng có lợi. Vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của ta, ta tổ chức khai thác.

Nếu làm không xuể thì nơi ta mời hợp tác đầu tiên phải là Trung Quốc. Làm không xuể nữa thì mời trong khối ASEAN, rồi mới mời ra các nước khác.

Nhưng có một điều bên Ngoại giao phải luôn nhớ, là chừng nào ta chưa đòi lại được Hoàng Sa thì năm nào cũng phải nhắc lên, nói lên “Hoàng Sa là của Việt Nam!” ít nhất là vài lần.

Vì theo thông lệ quốc tế, họ đã lấy của mình mà 9 năm liền mình mần thinh, không nói gì, thì đảo đó nghiễm nhiên sẽ thuộc chủ quyền của họ.

Đại tướng Lê Đức Anh đã bước sang tuổi 95. Cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Ban, ngành, đoàn thể, các nhân sỹ và con cháu thấy sức khỏe của Đại tướng vẫn dẻo, mẫn tiệp, thì ai cũng yên lòng và mừng vui.

Bởi Đại tướng vừa là Nhân chứng Lịch sử, vừa là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho các lớp cán bộ lãnh đạo và cho mỗi người dân yêu Tổ quốc chúng ta!

Cuối tháng 7/1991, Đại tướng Lê Đức Anh được Bộ Chính trị cử làm phái viên sang Trung Quốc bàn bạc những vấn đề cụ thể việc bình thường hoá quan hệ hai nước. Cuộc hội đàm chính thức diễn ra tại Trung Nam Hải vào buổi chiều ngày 31/7/1991.

Xin trích, ghi ra đây một số đoạn trong lời phát biểu của hai Trưởng đoàn tại cuộc hội đàm này (Tài liệu lưu trữ tại Phòng Lưu trữ Văn phòng Chủ tịch nước):

Tổng bí thư Giang Trạch Dân: Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà.

Tháng 9 năm ngoái đồng chí Nguyễn Văn Linh, đồng chí Đỗ Mười đến làm việc ở Thành Đô, đồng chí Hồng Hà cũng có mặt.

Hôm nay được dịp quen biết đồng chí Lê Đức Anh, tôi rất phấn khởi. Đồng chí đã hội đàm rất tốt với đồng chí Kiều Thạch. Đồng chí Lý Bằng đã gặp đồng chí. 1 giờ sáng nay tôi mới ở địa phương về đến Bắc Kinh.

Hôm nay rất phấn khởi được gặp đồng chí. Theo tập quán của chúng tôi, xin mời đồng chí nói trước.

Đại tướng Lê Đức Anh: Tôi rất phấn khởi được gặp đồng chí Tổng bí thư. Tôi biết đồng chí rất bận nhưng vẫn giành thì giờ tiếp chúng tôi, chứng tỏ đồng chí rất quan tâm.

Rất cám ơn đồng chí! Tôi xin chuyển lời thăm hỏi và chúc sức khoẻ của đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười, các đồng chí Cố vấn Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công tới đồng chí và nhờ đồng chí chuyển lời thăm hỏi đó tới đồng chí Đặng Tiểu Bình, các đồng chí lãnh đạo khác của Trung Quốc.

Đảng chúng tôi cử hai đồng chí chúng tôi sang thăm và làm việc ở Trung Quốc. Chúng tôi rất phấn khởi thấy được thành tựu mười năm cải cách của các đồng chí. Điều đó cổ vũ rất lớn Đảng và nhân dân chúng tôi.

Về công việc, chúng tôi đã thông báo về Đại hội VII, đã kiểm điểm việc thực hiện những thoả thuận ở Thành Đô cả về Đảng và Nhà nước xem việc gì làm được, việc gì chưa làm được.

Tôi đã nêu tất cả với đồng chí Kiều Thạch. Hôm qua chúng tôi được đồng chí Lý Bằng tiếp và cho phương hướng giải quyết những vấn đề thuộc Nhà nước. Chúng tôi rất phấn khởi.

Hôm nay gặp đồng chí Tổng bí thư, xin đề nghị đồng chí Tổng bí thư cho ý kiến về những mong muốn của Đảng chúng tôi, về việc Đoàn cấp cao Đảng và Nhà nước chúng tôi do đồng chí Đỗ Mười dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc mở đầu trang sử mới trong quan hệ giữa hai Đảng, hai nước sau hơn mười năm trắc trở.

Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười, Bộ Chính trị và ba đồng chí Cố vấn mong rằng sự kiện đó sẽ được thực hiện trong năm 1991 này. Được như thế thì rất đáng phấn khởi không chỉ đối với lãnh đạo mà cả đối với toàn Đảng, toàn dân chúng tôi.

Từ nay đến khi có cuộc gặp cấp cao đó, đề nghị với đồng chí Tổng bí thư là các ban của hai Đảng gặp nhau trao đổi kinh nghiệm xây dựng Đảng, kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trước hết chúng tôi mời đoàn Ban Đối ngoại Trung ương Đảng của Trung Quốc sang làm việc với Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Việt Nam.

Chúng tôi đề nghị các đoàn thể, các Hội hữu nghị Việt-Trung và Trung-Việt trao đổi kinh nghiệm, tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Gặp đồng chí, tôi có mấy ý kiến như thế, mong đồng chí cho ý kiến.

Giang Trạch Dân: Hôm nay được gặp đồng chí, tôi bỗng nhớ lại ngày 3 và 4 tháng 9-1990, những ngày gặp đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười.

Sau cuộc gặp gỡ lần đó, đôi bên có nhiều cố gắng thực hiện thoả thuận ở Thành Đô.

Nhưng do tình hình thay đổi và vì rất nhiều lý do, rất nhiều nguyên nhân khác, chúng ta chưa làm được hết, nhưng phương hướng chung có tiến triển. Hôm qua tôi đã đọc thư đồng chí Đỗ Mười gửi cho chúng tôi.

Chúng ta là hai đảng cầm quyền. Hôm nay tôi xin nói thẳng thắn.

Sáng nay tôi gặp đồng chí Lý Bằng, đồng chí Kiều Thạch và nhiều đồng chí ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khác, chúng tôi đã bàn với nhau và chúng tôi hoan nghênh Đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Nhà nước Việt Nam do đồng chí Đỗ Mười dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc năm nay.

Tôi rất đồng ý với ý kiến đồng chí Lê Đức Anh, các cơ quan của hai Đảng, qua lại trao đổi ý kiến với nhau. Ban Đối ngoại Trung Quốc sang thăm Việt Nam trước. Hôm qua đồng chí Lý Bằng đã trao đổi ý kiến với các đồng chí rất tốt. ý kiến chúng ta nhất trí với nhau.

Vì chúng ta là những người cộng sản, tôi nói theo nhận thức, theo quan điểm của đảng chúng tôi. Tình hình thế giới bây giờ rất phức tạp. Tôi biết đồng chí Lê Đức Anh hiểu biết hơn tôi về quân sự.

Đồng chí là Bộ trưởng Quốc phòng, tôi là Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Đồng chí vào Trung ương làm việc ở Trung ương sớm hơn tôi.

Tôi nói thẳng thắn, tôi giữ chức Tổng bí thư từ ngày 24-6-1989, từ đó đến nay, tôi không ngờ tình hình Đông Âu biến động và Liên Xô rối ren đến như vậy.

Chúng ta là những người cộng sản, phải thực sự cầu thị. Hiện nay xã hội chủ nghĩa đang thoái trào.

Tình hình ngày nay khác tình hình khi nước chúng tôi giải phóng và khi nước các đồng chí được giải phóng. Nhưng chúng ta là những nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải khẳng định chủ nghĩa xã hội sẽ thắng lợi.

Đồng chí phải thấy đây là quá trình đấu tranh hết sức gian khổ. Cho nên chúng ta là hai nước láng giềng, hai đảng cộng sản cầm quyền, không có lí do gì không xây dựng quan hệ láng giềng hữu hảo với nhau.

Từ sự đột biến ở Đông Âu và qua 25 tháng tôi công tác ở Trung ương, tôi nhận thức được rằng kiên trì xã hội chủ nghĩa là rất quan trọng.

Các nước phương Tây lúc nào cũng muốn xoá chủ nghĩa xã hội khỏi trái đất này. Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhân dân Trung Quốc đánh đổ chính quyền Quốc Dân Đảng giành chính quyền.

Chúng tôi xây dựng đất nước, không bao lâu, chúng tôi phải chống Mỹ viện Triều, sau đó chúng tôi cũng tham gia cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của các đồng chí.

Cho nên phương Tây, nhất là Mỹ qua hai lần đọ sức bằng phương thức chiến tranh, chúng không xóa được chủ nghĩa xã hội của chúng ta.

Bọn chúng dùng biện pháp "diễn biến hoà bình" của Ngoại trưởng Mỹ Đa-lét, để đối phó với chủ nghĩa xã hội, đối phó với bức màn sắt- như Nixơn đã viết cuốn "Không đánh mà thắng".

Cả Nixơn và Brêdinxki đều nhận định: Chủ nghĩa cộng sản- Chủ nghĩa xã hội sẽ bị tiêu diệt trên trái đất này. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời.

Năm 1985 Nixơn đi Đông Âu. Sau khi về Nixơn dự đoán không bao lâu nữa Đông Âu sẽ có thay đổi lớn. Tình hình không may đã diễn ra đúng như Nixơn dự đoán.

Tháng 5-1991, trước khi tôi đi Liên Xô, Nixơn vừa đến Liên Xô trước đó 2 tuần. Thái độ của các nước phương Tây đối với việc viện trợ cho Liên Xô khác nhau.

Đức, Pháp giữ lợi ích của Châu Âu. Mỹ, Nhật thái độ rất rõ ràng- Nixơn nói "Liên Xô phải triệt để đầu hàng, hạ vũ khí, phải quá độ sang tư bản chủ nghĩa bằng con đường hoà bình thì mới viện trợ, nếu không thì không viện trợ.

Đối với âm mưu lật đổ, chúng có pháp bảo: Dùng chế độ đa đảng để lật đổ Đảng".

Chúng tôi rất cảnh giác chế độ đa đảng. Về mặt này chúng tôi kiên quyết chống hoạt động đa đảng. Quả thật như thế, En-xin vừa lên Tổng thống Cộng hoà Liên bang Nga liền thủ tiêu các cơ sở đảng ở cơ quan, xí nghiệp.

En-xin đã từng là ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Đảng cộng sản Liên Xô. Nghe tin này như người Trung Quốc nói "Xúc mục kinh tâm"- Những điều trông thấy khiến ta giật mình.

Hiện nay các nước phương Tây muốn dùng chiêu bài dân chủ, tự do, nhân quyền để thực hiện diễn biến hoà bình. Mỗi năm chúng tôi triệu tập đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc một lần.

Tôi đã dự hội nghị đó hai lần. Quan điểm của tôi là, Đại hội đại biểu nhân dân là của dân, không đi theo con đường nghị viện kiểu phương Tây. Chúng tôi cũng có 8 đảng nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không cho phép đảng đối lập.

Chúng tôi có tổ chức Hiệp thương chính trị, các đảng hợp tác với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Những đại biểu Quốc hội toàn quốc, phát biểu ở Quốc hội, anh không phải với tư cách nghị sỹ, với tư cách thay mặt một đảng nào khác mà là tư cách đại biểu của nhân dân.

Sau khi giải phóng đất nước, ở chúng tôi xuất hiện Đảng Dân chủ, họ đòi luân phiên tham gia nắm quyền với Đảng chúng tôi.

Về mặt này Mao Chủ tịch rất nhạy bén. Người đã phát động cuộc đấu tranh chống phái hữu. Phương hướng là đúng nhưng trong đấu tranh thiếu sót ở chỗ đã mở rộng quá mức.

Chúng tôi bây giờ hết sức cảnh giác với tư tưởng luân phiên nắm chính quyền. Điều đó đáng sợ không phải là có tồn tại hay không tồn tại vấn đề đó mà là ở chỗ đảng có kiên quyết chống tư tưởng đó, có cảnh giác với âm mưu đó hay không. Nếu biết cảnh giác, có biện pháp, không sợ gì cả...

Đồng chí Chu Sỹ Lương (Trưởng ban Đối ngoại) đã từng hoạt động ở Thượng Hải đã thấy cảnh Quốc Dân Đảng cưỡi ngựa đàn áp thanh niên học sinh và những người cộng sản. Tôi nhớ rất rõ cảnh đó.

Điều thứ hai tôi nhận thức được đó là quân đội nhân dân phải tuyệt đối đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quân đội là cây súng, hình thái ý thức là cây bút. Với tư cách quân đội, đồng chí Lê Đức Anh lâu năm hơn tôi.

Tôi làm nghề nào mới học nghề ấy. Tôi vừa đi hơn 20 tỉnh và thành phố trong tổng số 30 tỉnh thành. Tôi đã đi 18 quân khu. Trước đây tôi chưa được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Sau khi được bầu tôi thường xuyên đi thăm các quân khu. Đồng chí Lê Đức Anh hiểu tầm quan trọng của cây súng hơn tôi.

Cây bút cũng rất quan trọng. Về tuyên truyền quả thật phải không ngừng cải tiến phương pháp tuyên truyền. Mục đích của tuyên truyền là đi sâu vào lòng người.

Nếu ta chỉ theo cách cũ cứng nhắc không được. Tuyên truyền phải sống động, hoạt bát, không thế sẽ không có kết quả tốt. Về phương thức, về công tác tư tưởng, phải tính đến sự phát triển của khoa học kỹ thuật.

Ti vi hết sức quan trọng. Hiện nay ti vi rất phổ biến ở thành phố. Hàng ngày dân chúng cứ nghe, nhìn, rồi qua tai, mắt, nếu chúng ta không có năng lực phân tích sẽ hấp thụ những điều dở.

Mao Chủ tịch đã nói: Nếu tư tưởng vô sản không chiếm lĩnh, tư tưởng tư sản sẽ chiếm lĩnh.

Chúng tôi tiến hành "Tảo hoàng" (quét sạch những văn hóa đồi trụy), chúng tôi kiên quyết làm. Phải chống lại những văn hoá màu vàng. Trừ hủ bại. Đứng về ý nghĩa chính trị, việc quét này không thành vấn đề gì. Việc này ở phương Tây cũng không thể không chống.

Đĩ điếm, cờ bạc, ma túy họ cũng phải chống. Tôi đã nói với phương Tây, với Nixơn tôi đã tiêu diệt những điều đó và đó là niềm tự hào của chúng tôi. Nay với đồng chí tôi nói thật, vẫn còn tồn tại những cái đó ở Trung Quốc, nhưng chúng tôi có thái độ kiên quyết chống nó, bài trừ nó.

Chúng ta kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản. Chống tư sản không chỉ chống văn hoá màu vàng.

Phải chống cả tự do hoá tư sản. Đứng về góc độ phiên dịch chắc khó dịch diễn đạt hết hàm ý của nội dung này.

Nội dung chống này bao gồm việc chống lại tất cả những tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội, chống những sự thối tha đồi trụy của tư sản.

Còn đối với những kỹ thuật tiên tiến, cách quản lý khoa học, văn hoá ưu tú của tư sản chúng ta lại phải học tập.

Chúng tôi có chuyển hướng cải cách mở cửa, khuyến khích nước ngoài đầu tư nhưng phải tôn trọng pháp luật...

Trên tôi đã giới thiệu tóm tắt nhận thức của cá nhân tôi. Tôi tin rằng chuyến đi thăm của đồng chí thúc đẩy việc tiến tới bình thường hoá quan hệ hai đảng, hai nước.

Qua đồng chí xin gửi lời thăm tốt đẹp tới đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười, các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng và các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tuy rằng đồng chí Nguyễn Văn Linh làm cố vấn nhưng đồng chí đó đã để lại ấn tượng sâu sắc cho chúng tôi.

Chúng ta còn dịp vừa ăn cơm vừa nói chuyện (Đồng chí Giang Trạch Dân liền đọc một câu thơ rồi nói tiếp):

Tôi rất phấn khởi được gặp đồng chí. Hôm nay là bước mở đầu tốt đẹp của chúng ta.

Cuộc đàm đạo được nối tiếp trong buổi chiêu đãi ngay tối hôm đó, 31-7-1991 cũng tại Trung Nam Hải.

Giang Trạch Dân: ...Chúng ta đang đứng trước những vấn đề phức tạp hơn khi đất nước mới giải phóng. Khả năng lãnh đạo của từng cá nhân thế hệ cũ lớn hơn những người mới.

Chúng tôi phải dựa vào các đồng chí cũ. Lãnh đạo hành chính điều quan trọng là phải dựa vào sự nhất trí. Trung Quốc có câu "Ba anh thợ da bằng một Gia Cát Lượng". Tôi cũng nhớ một câu nói nổi tiếng: "Sợ nhất lô cốt bị phá từ trong phá ra".

Năm nay xảy ra thiên tai lớn, nhiều năm chưa từng xảy ra nhưng chúng tôi tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng nhất định khắc phục được hậu quả. Chúng tôi vẫn lấy nông nghiệp làm cơ sở.

Nói thật với đồng chí, Trung Quốc giải phóng đã hơn 40 năm. Hễ cứ được mùa hai năm liền là lại coi nhẹ nông nghiệp. Mao Chủ tịch nói "Trong tay có lương thực, trong lòng không hoang mang", "Dân dĩ thực vi tiên".

Rất may, mấy năm liền Trung Quốc được mùa, dự trữ còn nhiều, không bị chấn động. Gặp thiên tai, chúng tôi không ngờ yếu tố tinh thần tốt như vậy.

Điều đó thể hiện nhân dân tin tưởng vào Đảng Cộng sản, vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

Vấn đề này không giải quyết tư tưởng bằng báo cáo, phải bằng thực tiễn hành động.

Nước lũ đến, Bí thư Đảng ủy xã đã đứng ra hàng đầu lo chống lũ, bà con rút đi hết, Bí thư là người rút cuối cùng. Những hành động thực tế đó lớn hơn nhiều lần báo cáo, hành động có sức thuyết phục lớn nhất.

Bây giờ trước tình hình Trung Quốc gặp thiên tai, bà con Hoa kiều, số người có gốc Hoa ở các nước và rất nhiều nước quan tâm, nhưng cũng có nước hí hửng về việc đó.

Bọn này tính toán chờ thời cơ hành động. Bọn này đã rút ra những bài học.

Dựa vào học sinh, sinh viên tạo phản 3 năm không thành. Nay muốn đột phá vào cơ quan Đảng, Chính phủ, Quân đội. Phu-xích viết trong "Dưới giá treo cổ" có một câu nói tôi mãi mãi không quên.

Phu-xích bị bọn phản bội bán rẻ, bị bắt và đã nói khi bị hành hình: "Nhân dân ơi! Tôi yêu nhân dân nhưng nhân dân đừng quên cảnh giác!" ý này rất hay, chúng ta phải luôn luôn cảnh giác.

Tôi hiểu rằng kinh nghiệm của đồng chí Lê Đức Anh rất phong phú. Các nước phương Tây bắt đầu tính toán đến vấn đề rất nghiêm trọng đối với chúng ta và vấn đề giáo dục thanh niên. Thanh niên dễ tiếp thu văn minh phương Tây.

Tiếp thu kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của phương Tây, chúng ta không phản đối.

Tôi thường xuyên có quan điểm tiếp thu những văn hoá ưu tú phương Tây. Nhưng phải làm cho thanh niên thấy nhân dân ta đã từng bị áp bức của các cường quốc...

Bắt đầu từ năm nay, chương trình giáo dục cấp 1 của chúng tôi có phần giáo dục tình hình đất nước, có phần lịch sử cận đại vì thế hệ chúng tôi sớm muộn cũng đi gặp Các Mác nên chính quyền sau này rơi vào tay ai không thể không suy nghĩ.

Tôi xin nói thẳng với đồng chí và nói nhiều vì lần đầu gặp đồng chí nhưng cảm thấy như người bạn lâu năm.

Lê Đức Anh: Khi ở chiến trường, tôi thấy rõ sự giúp đỡ của Trung Quốc. Tất nhiên có cả Liên Xô.

Nhưng sự giúp đỡ của Trung Quốc cụ thể, thiết thực: Súng B40, lương khô, mũ cối, thuốc xoa chống muỗi, chống vắt v.v… Trong chống Mỹ, cứu nước, các đồng chí đã viện trợ toàn diện cho Việt Nam.

Giang Trạch Dân: Đó là việc cần làm.

Lê Đức Anh: Bây giờ Trung Quốc hơn 1 tỷ dân, đang tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản, đó là viện trợ to lớn nhất, không thể đánh giá hết được.

Giang Trạch Dân: Tôi đã nghe thông báo về Đại hội VII. Thấy các đồng chí kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa , kiên trì chủ nghĩa Mác Lê-nin, tự đáy lòng tôi thấy rất phấn khởi.

Lê Đức Anh: Về quốc tế, đồng chí nói gọn đủ, tôi tiếp thu lập trường quan điểm của các đồng chí, điều đó làm tăng niềm tin ở tương lai xã hội chủ nghĩa đối với chúng tôi.

Trong thời điểm này, Trung Quốc đóng vai trò cực kỳ to lớn trước sự tồn vong, còn hay mất của chủ nghĩa xã hội, của phong trào độc lập dân tộc trên thế giới. Đó là nhận thức sâu sắc của chúng tôi.

Về phía Việt Nam chúng tôi kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa . Tất nhiên không cần lập mặt trận chống ai, nhưng Trung Quốc ổn định, vững, là niềm cổ vũ lớn cho phong trào cộng sản quốc tế.

Trở về Việt Nam. Ngày 3 tháng 8 năm 1991, tại cuộc họp Bộ Chính trị, sau khi tôi báo cáo kết quả chuyến đi Trung Quốc, các thành viên dự họp phát biểu sôi nổi và đồng nhất đánh giá chuyến đi đạt kết quả tốt và nhất trí mấy việc cần làm là:

- Thông báo về kết quả chuyến đi này với Liên Xô, Lào và Campuchia. (Trong đó có ý kiến của Cố vấn Phạm Văn Đồng: Không để các đồng chí Campuchia nghi ngờ mình, nghĩ mình mua bán với Trung Quốc trên lưng họ.

Có thể cho các đồng chí Campuchia biết cả biên bản, sòng phẳng; để các đồng chí Campuchia rõ chuyến đi chỉ có hai vấn đề:

Thông báo kết quả Đại hội VII và bàn bình thường hóa quan hệ, không có bàn kèm theo vấn đề Campuchia.

Để các đồng chí đó thấy rõ thắng lợi chuyến thăm Trung Quốc là thắng lợi chung của Việt Nam và Campuchia, góp phần giải quyết vấn đề Campuchia).

- Thông báo về chuyến đi trong nội bộ Đảng và báo cáo với Quốc hội.

- Triển khai các công việc cần thiết trước mắt, nhất là các cơ quan chức năng như Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương và Thủ tướng Chính phủ để xúc tiến các bước trong tiến trình thực hiện bình thường hoá quan hệ Việt-Trung.

- Giang Trạch Dân: Quan hệ quốc gia với quốc gia, chúng tôi theo 5 nguyên tắc chung sống hoà bình- mấu chốt nhất là không can thiệp vào nội bộ của nhau. Còn giải quyết quan hệ Đảng với Đảng- chúng tôi theo 4 nguyên tắc- mấu chốt cũng là không can thiệp vào nội bộ nhau.

Người ta ai cũng mong muốn người trong họ hàng của mình tốt lên. Láng giềng cũng muốn láng giềng của mình tốt hơn.

Như tôi đã nói đứng trước tình hình quốc tế hiện nay, xã hội chủ nghĩa đang thoái trào, những nhà nước do Đảng Cộng sản cầm quyền không còn bao nhiêu. Nên tự đáy lòng tôi hết sức tán thưởng đường lối Đại hội VII Việt Nam...

Đối với chúng ta phải kiên trì sự lãnh đạo của Đảng. Trong kinh tế, sở hữu nhiều thành phần nhưng phải lấy công hữu làm cơ sở.

Đó là những điều tâm huyết của tôi. Lần đầu tiên được gặp đồng chí, tôi rất thú vị, nói hết lời.

Lê Đức Anh: Lần đầu tiên gặp đồng chí Tổng bí thư Giang Trạch Dân, tôi thấy rất thân tình.

Những lời nói từ đáy lòng đồng chí nói ra được thể hiện cụ thể ở những nơi tôi đến tham quan: xã Tứ Quý Thanh, Công ty gang thép Thủ Đô …

Giang Trạch Dân: Đồng chí lớn tuổi hơn tôi, làm việc lâu năm hơn tôi, kinh nghiệm phong phú hơn tôi.

Lê Đức Anh: Chúng tôi ở nước nhỏ, tầm nhìn hẹp.

Giang Trạch Dân: Trung Quốc có câu nói "Con chim chích tuy nhỏ nhưng gan mật đều có". Tôi chủ trương bố trí cho cán bộ công tác ở cơ sở rồi mới điều lên trên, như vậy mới tốt.

Về quân sự, đối với tôi là ngoại ngạch. Bây giờ không phải tôi đi học bắn súng mà học xây dựng quân đội, xây dựng chiến lược của chúng tôi.

Chúng tôi phải xây dựng chiến lược phòng ngự vì không có ý xâm lược ai. Chúng tôi phải tăng cường xây dựng quốc phòng.

Bây giờ tình hình thế giới thay đổi nhanh. Có một điểm cần nghiên cứu về ý thức của Lênin: Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản dãy chết. Vì sao nó chưa chết? Nó rút kinh nghiệm.

Ta cũng phải tổng kết kinh nghiệm cách mạng thế giới. Làm sao phải xây dựng tốt nhà nước xã hội chủ nghĩa của mình. Nói thật với các đồng chí, cuộc cải cách mở cửa do đồng chí Đặng Tiểu Bình đề ra thu được nhiều thành tích to lớn, nhưng kinh tế vẫn còn kém.

Chúng tôi phải quyết tâm phát triển kinh tế, có phát triển mới có quyền phát triển. Có điều có thể khẳng định: Kinh tế phát triển, tài lực phong phú, chúng tôi cũng không xâm lược ai.

Phải ổn định chính trị mới phát triển kinh tế được. Chúng tôi muốn có hoà bình để làm tốt công tác kinh tế.

Nhưng điều đó hoàn toàn không phải do một mình chúng tôi quyết định được. Chúng tôi phải hết sức cố gắng.

Trời không chiều ý người nên chúng ta phải chuẩn bị đầy đủ mọi mặt, như thế tốt hơn chỉ nghĩ tới một mặt.

Tối hôm nay rất phấn khởi được làm quen với đồng chí, một lần lạ, lần sau quen. Chúc đồng chí một chuyến đi tốt đẹp (ông Giang dùng tiếng Pháp: "Bon voyage").

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

Hải quân Ukraine chỉ “tồn tại trên giấy”

Hải quân Ukraine chỉ “tồn tại trên giấy”
Hải quân Ukraine chỉ “tồn tại trên giấy”

Chính quyền Ukraine hiện không biết cần phải làm gì với lực lượng thủy thủ của các tàu chiến, còn trang bị của lực lượng hải quân Ukraine hiện đang trong tình trạng hết sức tồi tệ.

Hải quân Ukraine hiện vẫn đang tồn tại nhưng là “tồn tại trên giấy”.

Tuyên bố trên do Tỉnh trưởng Sevastopol Sergey Menhiailo, phó đô đốc dự bị và là cựu Phó Tư lệnh Hạm đội Biển Đen của Nga đưa ra.

Theo đó, lực lượng hạm đội Ukraine hiện nay chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của các chính trị gia Kiev. Chức năng và các hoạt động chiến thuật của lực lượng này hiện chỉ “tồn tại trên giấy”.

Trước tuyên bố này của tỉnh trưởng Sevastopol cũng đã có nhiều thông tin cho thấy tình trạng của lực lượng Hải quân Ukraine đang hết sức báo động.

Cụ thể, trong năm 2015, tổng cộng đã có 559 sỹ quan và binh sỹ từ bỏ hàng ngũ Hải quân Ukraine và chỉ có 122 người trong số này được tìm thấy, số còn lại chỉ hủy Hải quân Ukraine không công bố thông tin.

Ngoài ra, các sỹ quan của Hải quân Ukraine vẫn đến Crimea trong các kỳ nghỉ, bất chấp cảnh báo của Cơ quan An ninh Ukraine (SBU).

Chỉ huy của Hải quân Ukraine cũng không thể ngăn chặn tình trạng này và trong thời gian qua đã có tổng cộng 155 sỹ quan của Hải quân Ukraine đến Crimea nghỉ dưỡng.

“Hải quân Ukraine hiện chỉ có trong tưởng tượng của giới chính trị gia Ukraine. Lực lượng này hiện chỉ tồn tại trên giấy và các hoạt động chiến thuật khác nhau cũng chỉ tồn tại trên giấy tờ”- Sergey Menhiailo nhận định trên Ria Novosti.

Theo Sergey Menhiailo, những gì đang diễn ra với Hải quân Ukraine hiện nay giống hệt tình trạng của những năm 1990, khi Liên Xô tan rã.

“Theo thỏa thuận phân chia Hạm đội Biển Đen, phía Ukraine khi đó được chia cho một số tàu chiến đã được sửa chữa nhưng hiện tình trạng kỹ thuật của số tàu này hết sức tồi tệ.

Chính quyền Ukraine hiện không biết phải làm gì với lực lượng thủy thủ của các tàu chiến và hiện số thủy thủ này nhiều hơn vài lần so với số phương tiện kỹ thuật Hải quân Ukraine đang sở hữu”- tỉnh trưởng Sevastopol nhấn mạnh.

Hải quân Ukraine chỉ “tồn tại trên giấy”
Hải quân Ukraine chỉ “tồn tại trên giấy”

Chính quyền Ukraine hiện không biết cần phải làm gì với lực lượng thủy thủ của các tàu chiến, còn trang bị của lực lượng hải quân Ukraine hiện đang trong tình trạng hết sức tồi tệ.

Hải quân Ukraine hiện vẫn đang tồn tại nhưng là “tồn tại trên giấy”.

Tuyên bố trên do Tỉnh trưởng Sevastopol Sergey Menhiailo, phó đô đốc dự bị và là cựu Phó Tư lệnh Hạm đội Biển Đen của Nga đưa ra.

Theo đó, lực lượng hạm đội Ukraine hiện nay chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của các chính trị gia Kiev. Chức năng và các hoạt động chiến thuật của lực lượng này hiện chỉ “tồn tại trên giấy”.

Trước tuyên bố này của tỉnh trưởng Sevastopol cũng đã có nhiều thông tin cho thấy tình trạng của lực lượng Hải quân Ukraine đang hết sức báo động.

Cụ thể, trong năm 2015, tổng cộng đã có 559 sỹ quan và binh sỹ từ bỏ hàng ngũ Hải quân Ukraine và chỉ có 122 người trong số này được tìm thấy, số còn lại chỉ hủy Hải quân Ukraine không công bố thông tin.

Ngoài ra, các sỹ quan của Hải quân Ukraine vẫn đến Crimea trong các kỳ nghỉ, bất chấp cảnh báo của Cơ quan An ninh Ukraine (SBU).

Chỉ huy của Hải quân Ukraine cũng không thể ngăn chặn tình trạng này và trong thời gian qua đã có tổng cộng 155 sỹ quan của Hải quân Ukraine đến Crimea nghỉ dưỡng.

“Hải quân Ukraine hiện chỉ có trong tưởng tượng của giới chính trị gia Ukraine. Lực lượng này hiện chỉ tồn tại trên giấy và các hoạt động chiến thuật khác nhau cũng chỉ tồn tại trên giấy tờ”- Sergey Menhiailo nhận định trên Ria Novosti.

Theo Sergey Menhiailo, những gì đang diễn ra với Hải quân Ukraine hiện nay giống hệt tình trạng của những năm 1990, khi Liên Xô tan rã.

“Theo thỏa thuận phân chia Hạm đội Biển Đen, phía Ukraine khi đó được chia cho một số tàu chiến đã được sửa chữa nhưng hiện tình trạng kỹ thuật của số tàu này hết sức tồi tệ.

Chính quyền Ukraine hiện không biết phải làm gì với lực lượng thủy thủ của các tàu chiến và hiện số thủy thủ này nhiều hơn vài lần so với số phương tiện kỹ thuật Hải quân Ukraine đang sở hữu”- tỉnh trưởng Sevastopol nhấn mạnh.

Dấu ấn Đại tướng với tuyến phòng thủ Trường Sa và cảng Cam Ranh

Dấu ấn Đại tướng với tuyến phòng thủ Trường Sa và cảng Cam Ranh
Dấu ấn Đại tướng với tuyến phòng thủ Trường Sa và cảng Cam Ranh

Đại tướng Lê Đức Anh thấy rõ một điều cốt tử: Trong việc tăng cường phòng thủ bờ biển, hải đảo và thềm lục địa có hai vấn đề cấp thiết phải giải quyết, đó là khu vực quần đảo Trường Sa và việc thu hồi, quản lý cảng quân sự Cam Ranh.

Bài 1: Đại tướng Lê Đức Anh với vấn đề Trung Quốc và biển Đông

Vận dụng Đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Đại tướng Lê Đức Anh là tác giả của kế sách Bố trí thế phòng thủ chiến lược mới; xây dựng tuyến phòng thủ Trường Sa; Thu hồi quân cảng Cam Ranh trước thời hạn.

Trong suy tư của Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh, một lĩnh vực vô cùng quan trọng là tăng cường năng lực phòng thủ bờ biển, hải đảo, nhất là khu vực quần đảo Trường Sa và vấn đề tư duy, thực hiện ý tưởng thu hồi cảng quân sự Cam Ranh.

Thời điểm sóng gió

Trước khi kể về công việc tướng Lê Đức Anh giải quyết ở Trường Sa và Cam Ranh, người viết bài này xin nói rõ thêm là không bao giờ quên những lời tâm sự, những suy tư của Đại tướng Lê Đức Anh mỗi khi ông ngồi nhớ lại và phân tích về vấn đề an ninh - quốc phòng của ta tại thời điểm “sóng gió” này:

 Sáng nay, 2/2/2015, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã đến dự lễ kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng tại Hà Nội. Ảnh: Thủy Ngọc​

Sáng nay, 2/2/2015, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã đến dự lễ kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng tại Hà Nội. Ảnh: Thủy Ngọc

“Về an ninh - quốc phòng, có thể nói thuận lợi thì rất cơ bản, nhưng khó khăn cũng lớn, nó có từ giữa nhiệm kỳ 5, phát triển kéo dài tới Đại hội 6 và tới Đại hội 7.

Về mặt quốc phòng của ta, cần nhận rõ giai đoạn này ta đang ở trong vòng xoáy của các mối mâu thuẫn: Trước hết là mâu thuẫn giữa ta với Mỹ.

Tuy ta đã thắng Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, nhưng Mỹ còn duy trì mâu thuẫn với ta, như phần trên đã nói, Mỹ còn muốn ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Nam, của tinh thần độc lập tự chủ của Việt Nam đối với khu vực và phong trào cách mạng thế giới, và Mỹ đã và đang thực hiện mong muốn, mục đích đó bằng phương thức bên trong, tức là nội bộ ta thì tiến hành diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ, bên ngoài thì dùng nước thứ ba mà cụ thể là tập đoàn Pôn Pốt ở Campuchia đánh ta từ biên giới Tây Nam làm cho ta suy yếu, mất ổn định, vừa chấm dứt chiến tranh giải phóng lại lâm vào cuộc xung đột, cuộc chiến tranh mới, như vậy thì ta không thể bắt tay vào củng cố và xây dựng kinh tế đất nước phát triển được.

Hai là mâu thuẫn giữa ta và Trung Quốc, trước đây đã có lúc có những sự bất đồng, sau giải phóng miền Nam 1975 thì nổi lên mâu thuẫn.

Ba là tồn tại một số mâu thuẫn giữa ta và Liên Xô. Sau giải phóng miền Nam, ta muốn độc lập tự chủ và đi lên, Liên Xô thì giúp ta nhưng lại muốn áp đặt, muốn ta đi vào quỹ đạo trong chiến lược của họ.

Mà thực chất kế hoạch chiến lược của Liên Xô là kế hoạch chiến lược với Mỹ và Trung Quốc.

Mâu thuẫn Trung-Xô chuyển thành mâu thuẫn đối kháng, trước đây đã có rồi, bây giờ tăng lên. Mâu thuẫn Mỹ-Xô cũng là mâu thuẫn đối kháng, rồi xuất hiện xu hướng Mỹ-Trung liên kết để chống Liên Xô, mà chống bằng "con bài Việt Nam", vì vậy ta bị rơi vào vòng xoáy của các mối mâu thuẫn đó.

Lúc cao điểm nhất, quân số thường trực của ta đã đưa lên đến 1,3 triệu mà không yên tâm. Do vậy đang có ý định phấn đấu đưa lên đến 1,6 triệu, nhưng bố trí như vậy cũng không ai yên tâm.

Trong khi đó mâu thuẫn nội bộ trong nước tăng lên, chi phí quốc phòng tăng lên, đời sống đã khó khăn càng khó khăn hơn trước, nó tác động xấu vào nền kinh tế, về xã hội và đời sống của nhân dân ta rất lớn.

Tăng quân số, tăng chi phí quốc phòng nhưng mặt quốc phòng cũng không an toàn, nguy cơ của độc lập dân tộc trên lĩnh vực quốc phòng tăng lên.

Lúc này, vấn đề đặt ra là làm thế nào để thoát ra khỏi vòng xoáy của mâu thuẫn này mà vẫn giữ được độc lập dân tộc? Mà cái này nói rộng ra không được.

Làm sao trong Đảng thấy được nhưng lại không thể đưa ra bàn rộng rãi, giờ gỡ thế nào thì một người không thể nghĩ ra cách gì để giải quyết được hết và có hiệu quả.

Phải phát huy trí tuệ của tập thể Bộ Chính trị và đề cao vai trò trách nhiệm dám nghĩ dám làm của từng cá nhân thành viên. Vì vậy tình hình nó đặt ra yêu cầu về điều chuyển chiến lược là ở chỗ đó.

Trong điều chuyển chiến lược có vấn đề bố trí lại đội hình chiến lược, nhưng không phải là bố trí cơ học một cách thuần túy những đơn vị chủ lực cơ động của Bộ, của các quân khu và lực lượng bộ đội địa phương hiện có.

Tôi cứ nung nấu một suy nghĩ là trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại vừa qua, chính nhờ có "Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh" và "Đường lối chiến tranh nhân dân" của Đảng ta nên cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã giành thắng lợi.

Mà vấn đề bản chất nhất, cốt tử nhất của Đường lối chiến tranh nhân dân và Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là phát huy sức mạnh của toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, tuy nhiên là có tranh thủ được sự giúp đỡ của bè bạn và quốc tế.

Vậy thì bây giờ ta vận dụng nguyên lý này vào giai đoạn đầu tiên của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta mới khởi xướng, mà cụ thể là vận dụng một cách khoa học, nhuần nhuyễn Đường lối chiến tranh nhân dân và Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh vào tình hình nhiệm vụ của giai đoạn mới này như thế nào.

Nói một cách khác là điều chuyển chiến lược, bố trí đội hình chiến lược như thế nào để bảo đảm việc phát huy được sức mạnh toàn dân, toàn diện trong điều kiện đánh lâu dài, tạo nên sức mạnh phòng thủ đất nước vừa luôn sẵn sàng vừa đủ sức mạnh chống được mọi tình huống chiến tranh.

Sau khi báo cáo, trình bày ý tưởng của mình, được Bộ Chính trị nhất trí và đồng tình ủng hộ, tôi triển khai tổ chức thực hiện.

Lúc đó, tất cả các cơ quan Bộ Quốc phòng, trong đó nòng cốt là cơ quan Tác chiến và Quân lực, Bộ Tổng tham mưu do anh Đoàn Khuê làm Tổng tham mưu trưởng, tiến hành nghiên cứu biên soạn và triển khai tổ chức thực hiện trên phạm vi toàn quốc.

Như trên tôi nói, không phải là sự bố trí cơ học thuần túy vị trí đứng chân của từng đơn vị, mà công việc bố trí đội hình chiến lược lúc này phải trên nền tảng của tư duy mới.

Đó là việc xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành vững bền để vừa chống được diễn biến hoà bình, vừa chống được bạo loạn lật đổ và những nguy cơ chiến tranh do cấp ủy Đảng trực tiếp lãnh đạo và điều hành. Đây là vấn đề rất cơ bản.

Nói cụ thể ra, Bí thư Tỉnh ủy phải đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng của tỉnh, là Bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh, phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy việc xây dựng và phát huy tác dụng khu vực phòng thủ tỉnh, thành; xây dựng, điều động và chỉ huy các lực lượng vũ trang và lực lượng quần chúng tại chỗ cả trong tình huống chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ, cả trong tình huống có chiến tranh hoặc xung đột vũ trang.

Cơ quan quân sự tỉnh-thành là cơ quan tham mưu chỉ huy về công tác quân sự cho lãnh đạo tỉnh- thành. Rồi xây dựng sự liên kết giữa các khu vực phòng thủ với nhau.

Xác định rõ các "Khu vực phòng thủ then chốt", có sự kết hợp giữa các lực lượng vũ trang của quân khu và của Bộ, kết hợp giữa lực lượng chủ lực cơ động của quân khu và chủ lực cơ động của Trung ương. Đặc biệt tăng cường phòng thủ bờ biển, hải đảo và thềm lục địa.

Chú trọng xây dựng công nghiệp quốc phòng tự chủ, có lực lượng cán bộ và nhân viên khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển.

Phương hướng là ta sẽ giảm quân thường trực với số lượng lớn nhưng lực lượng làm khoa học (khoa học tự nhiên và khoa học xã hội) chỉ nên tăng lên chứ không giảm.

Rất chú ý khâu bảo quản và hiện đại hoá vũ khí, nhất là các lĩnh vực: Phòng không, tăng- thiết giáp, cơ giới …; tiến tới tự động hoá pháo phòng không tầm trung và tầm cao. Hải quân thì tàu 5000 tấn tiến lên một vạn tấn.

Khi tôi đưa ra Bộ Tổng tham mưu thảo luận vấn đề này thì đều nhất trí. Đưa vào báo cáo một số anh: Anh Linh, anh Dũng, anh Mân, anh Võ Chí Công, Võ Văn Kiệt đều đồng tình.

Rồi anh Đỗ Mười, anh Tố Hữu đều đồng tình. Có anh hỏi tôi "Phía đối phương như thế nào?" Tôi bảo, nếu một thế lực nào đó định xuất quân đánh ta, thì ta xác định đánh lâu dài; ta bố trí đội hình kiểu này để đánh lâu dài thì nó vững hơn.

Khi chính thức đưa ra bàn trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư thì cũng nhanh chóng đạt được sự nhất trí cao vì trước đó tôi đã gặp, báo cáo và trao đổi với từng anh, các anh đã nhất trí và đồng tình, đều nói là "Được!" vì thấy như vậy là vững.

Tiến hành đồng thời với việc điều chỉnh bố trí đội hình chiến lược là việc tính toán cụ thể rồi lên kế hoạch giảm quân số để trực tiếp giảm chi phí quốc phòng.

Điều này tôi và anh Nguyễn Văn Linh đã nung nấu từ trước nhưng đến thời điểm này mới cho phép ta thực hiện, bởi không thể để kéo dài tình trạng ngân sách quốc phòng cứ chiếm tới 25% tổng thu nhập quốc dân, trong đó chưa tính đến trang bị, trong khi nền kinh tế đang trong tình trạng suy kiệt và khủng hoảng trầm trọng, lạm phát lên tới 774%.

Nhất định phải giảm quân số thường trực để làm nhẹ bớt gánh nặng chi phí quốc phòng là trực tiếp góp phần đáng kể giải quyết khủng hoảng, trực tiếp góp sức vào công cuộc "Đổi mới đất nước" mà Đảng ta vừa khởi xướng.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc sức khỏe Đại tướng Lê Đức Anh tháng 12/2014. Ảnh: VietNamNet
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc sức khỏe Đại tướng Lê Đức Anh tháng 12/2014. Ảnh: VietNamNet

Lúc này Bộ Chính trị không hề áp đặt mức giảm bao nhiêu mà nói rằng Bộ Quốc phòng cứ tính toán. Các đồng chí phụ trách kinh tế cũng hoàn toàn đồng ý và nói rằng "Về mặt ngân sách, Quốc phòng cứ tính toán, làm sao cho vừa".

Tôi đưa ra con số giảm trên 60% số quân thường trực và xin từ 15% đến 18% ngân sách thu trong nước chứ không phải tổng ngân sách, càng không phải tỷ lệ này so với tổng thu nhập quốc dân.

Khi đưa ra con số này thì Bộ Chính trị nhất trí hoàn toàn, ai nấy đều phấn khởi và thấy nhẹ hẳn đi, gánh nặng ngân sách quốc phòng sẽ được giải quyết một cách cơ bản (…).

Từ việc nghiên cứu tài liệu, đi khảo sát thực địa rồi suy ngẫm, Đại tướng Lê Đức Anh thấy rõ ra một nội dung có tính cốt tử:

Trong việc tăng cường phòng thủ bờ biển, hải đảo và thềm lục địa có hai vấn đề nổi lên rất quan trọng và cấp thiết cần phải giải quyết - Đó là khu vực quần đảo Trường Sa và việc thu hồi, quản lý cảng quân sự Cam Ranh.

Đại tướng chỉ thị cho Quân khu 4, Quân khu 5 và Bộ tư lệnh Hải quân theo dõi chặt các biến động trên vùng biển Đông, chuẩn bị người và phương tiện để đối phó với các tình huống xảy ra.

Cuối tháng 2-1987, Bộ trưởng Quốc phòng một mặt chỉ thị cho Quân chủng Hải quân đưa lực lượng ra đóng giữ bãi đá ngầm Thuyền Chài, một mặt trình lên Trung ương chủ trương và kế hoạch giữ đảo.

Ngày 20-3-1987 đã được Ban Bí thư phê chuẩn, và ngày 9-4-1987 đã được Hội đồng Bộ trưởng giải quyết vật tư, tài chính cho công việc này.

Cuối tháng 3-1987, Đại tướng Bộ trưởng xuống làm việc với Bộ tư lệnh Hải quân và chỉ thị rõ: “Phải thấy hết vị trí chiến lược của biển Đông. Trước tiên phải lo phòng thủ Trường Sa, nơi có thể xảy ra xung đột.

Ta phải hành động kiên quyết như vừa rồi đóng ở Thuyền Chài; các đồng chí suy nghĩ mọi cách để xây dựng Hải quân mạnh như mong muốn của toàn quân”.

Trong hai tháng 5 và 6/1987, quân chủng Hải quân đã phái các tàu đi khảo sát lần cuối các bãi đá ngầm để lập kế hoạch đóng giữ.

Ngày 10-6-1987, ông vào Cam Ranh, tiếp tục làm việc với Bộ tư lệnh Hải quân và Vùng 4, ông đã nói rõ thêm:

“Từ những năm 50, nằm trong ý đồ chiến lược của mình, Trung Quốc đã có ý định chiếm Hoàng Sa rồi Trường Sa.

Ta phải nỗ lực cao nhất để bảo vệ quần đảo Trường Sa, tăng cường khả năng phòng thủ tại chỗ, đóng giữ các đảo còn chìm, coi trọng việc chi viện từ bờ ra.

Vừa qua Quốc phòng chưa làm hết sức, cả nước chưa làm hết sức. Nay ta phải làm, làm cho ngày nay và cho thế hệ mai sau”.

Ngày 24 và 25 tháng 10-1987, Bộ tư lệnh Hải quân và Bộ tổng Tham mưu trình lên phương án đóng giữ các bãi đá ngầm.

Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh và ông Đỗ Mười, Thường trực Ban Bí thư đã nhất trí duyệt phương án đó. Đến ngày hôm sau, 26 tháng 10, ông Đỗ Mười đã chủ trì cuộc họp Ban Bí thư về vấn đề Trường Sa để chuẩn bị báo cáo trình lên Bộ Chính trị.

Tại cuộc họp, Thượng tướng - Tổng tham mưu trưởng Đào Đình Luyện, thay mặt Bộ tổng Tham mưu đã báo cáo tình hình khẩn trương ở Trường Sa, đề nghị Bộ Ngoại giao ra tuyên bố phản đối Trung Quốc cho Hải quân xuống Trường Sa.

Tăng cường sự có mặt của Việt Nam ở biển Đông

Đến ngày 6-11-1987, tướng Anh ra Mệnh lệnh (Số 1679/ML) giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Hải quân:

"Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi đá cạn chưa có người, không chờ xin chỉ thị cấp trên; trước mắt đưa ngay lực lượng ra đóng giữ Đá Tây, Đá Chữ Thập, Đá Lớn, Đá Tiên Nữ! …”

Và, đến ngày 30 tháng 11 đó, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 06, chỉ rõ: "Nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của nước ta đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bảo vệ vững chắc quần đảo Trường Sa và tăng cường sự có mặt của Việt Nam ở biển Đông là nhiệm vụ của cả nước, không phải riêng của các lực lượng vũ trang …"

Chiến sĩ hải quân ở Trường Sa. Ảnh: Minh Thăng
Chiến sĩ hải quân ở Trường Sa. Ảnh: Minh Thăng

Cuối năm 1987 và tháng 1-1988, Bộ tổng Tham mưu và Tổng cục Chính trị đã tổ chức hội nghị giao nhiệm vụ cho các Quân chủng: Hải quân, Phòng không và Không quân, kế hoạch hiệp đồng tác chiến giữa 3 quân chủng để bảo vệ Trường Sa.

Tư lệnh Vùng 4 Hải quân đã đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Tây, Đá Chữ Thập … nhưng gió to sóng lớn, các con tàu vận tải nhỏ của Hải quân bị đứt neo, phải trở về căn cứ.

Và rồi, đúng như tiên đoán của ông, Trung Quốc đã cho lực lượng hải quân xuống tiến công chiếm đảo, bắn chìm tàu của ta.

Chiều 13-2-1988, làm việc với Tư lệnh Hải quân, tướng Anh đã phê phán nghiêm khắc việc để mất Đá Chữ Thập và giao cho Tư lệnh Quân chủng kiêm nhiệm Tư lệnh Vùng 4 Hải quân.

Ngày 17 tháng 2, đúng mồng 1 Tết Nhâm Thìn, Bộ tư lệnh Hải quân vào sở chỉ huy Vùng 4 ở Cam Ranh để trực tiếp chỉ huy các đơn vị.

Hai ngày sau, ông gửi báo cáo lên Ban Bí thư, Hội đồng Bộ trưởng và Bộ Ngoại giao đề nghị giải quyết một số vấn đề cấp bách như tàu vận chuyển hàng ra Trường Sa, cấp kinh phí, vật tư cho Hải quân, tiến hành đấu tranh ngoại giao và tranh thủ dư luận rộng rãi liên tục trong nước và quốc tế.

Đại tướng Lê Đức Anh phát biểu tại Trường Sa Lớn năm 1988
Đại tướng Lê Đức Anh phát biểu tại Trường Sa Lớn năm 1988

Ngày 22-2-1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng đã ký quyết định giải quyết những vấn đề cấp bách cho bộ đội Trường Sa.

Ngay sau đó, các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đã làm việc với các cơ quan Nhà nước để tiếp nhận vật tư, trang bị, tài chính cho Hải quân, về cơ bản là đạt kế hoạch.

Trong những ngày này, quân và dân cả nước chăm chú và lo lắng theo dõi tình hình ở Trường Sa.

Bộ Ngoại giao ta đã gặp các Đại sứ để thông báo tình hình Trung Quốc cho Hải quân xâm phạm lãnh thổ Việt Nam ở quần đảo Trường Sa, đe dọa an ninh của Việt Nam và các nước trong khu vực, gây tình hình căng thẳng và mất ổn định ở Đông Nam Á.

Một phong trào của quần chúng chi viện Trường Sa, lên án Trung Quốc nổi lên nhanh chóng trên phạm vi cả nước.

Quân chủng Hải quân đã có 1 kế hoạch tỉ mỉ cho lực lượng tàu vận tải và bộ đội công binh cùng một lúc vào sáng 14-3-1988 đến đóng giữ 3 bãi đá ngầm: Gạc Ma, Len Đao và Cô Lin ở phía nam cụm đảo Sinh Tồn.

Nhưng ngay trong đêm 13-3, Trung Quốc đã điều 5 tàu đến khu vực này, sáng sớm ngày 14 đã bắn cháy 3 tàu của ta (Số 604, 605 và 505), làm ta hy sinh 3, bị thương 11 và mất tích 74 đồng chí. Họ chiếm Gạc Ma, ta đóng giữ được Cô Lin và Len Đao.

Hàng chục đồng chí bơi được về đảo Sinh Tồn. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm đã xuất hiện. Ta dùng máy bay AH-26 tiếp tế thuốc men, quần áo cho đảo Sinh Tồn bằng thả dù, đã có tác dụng tốt…

Ngày 16-3-1988, Bộ Chính trị đã họp và có kết luận về nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa. Nhiều nước trên thế giới lên tiếng ủng hộ lập trường và chủ quyền của ta.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, cục phó Cục Tác chiến, người được giao chuyên trách theo dõi về biển đảo kể lại:

“Sau Giải phóng miền Nam-1975, tại khu vực quần đảo Trường Sa, ta đứng chân 7 điểm-đảo.

Từ ngày nhậm chức Tổng tham mưu Trưởng, rồi Bộ trưởng Quốc phòng, mặc dù đang phải tập trung giải quyết nhiệm vụ tác chiến trên biên giới phía Bắc nhưng ông Lê Đức Anh vẫn giành thời gian đi khảo sát trực tiếp tại Trường Sa.

Ông nói với anh em Tác chiến chúng tôi là sớm muộn gì thì Trung Quốc cũng sẽ đưa quân xuống đây.

Và rồi, trước sự giải trình và đề nghị rất thuyết phục của ông, mặc dù lúc đó ta đang lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội, rất khó khăn, nhưng đề nghị của ông vẫn được Bộ Chính trị phê duyệt; và Chính phủ đã tìm mọi cách để giành một phần ngân sách cho bộ đội Hải quân và Công binh tiến hành xây dựng các “nhà giàn” và “chòi canh” để đưa quân ra chốt giữ tại các đảo “nửa nổi nửa chìm”. Kết thúc đợt đó, số điểm-đảo của ta chốt giữ đã lên con số 21, tức gấp ba lần trước đó.

Từ ngày 4 đến 9-5-1988, mặc dù lúc này sức khoẻ của Đại tướng Bộ trưởng không được tốt, nhưng ông vẫn yêu cầu tôi và một số cán bộ Bộ tổng Tham mưu đưa ông ra thị sát trực tiếp tình hình bộ đội chốt giữ ở quần đảo Trường Sa.

Trước đó, ngày 12 tháng 4, ta công bố công khai 21 điểm mà ta đã đóng quân từ trước tới nay. Ngày 7 tháng 5, ông chỉ đạo cho Bộ tư lệnh Hải quân tổ chức lễ kỷ niệm ngày truyền thống của Quân chủng tại đảo Trường Sa Lớn.

Tới dự có đại diện các cơ quan của Bộ quốc phòng, các quân chủng và Tỉnh ủy tỉnh Phú Khánh. Lễ mít tinh tổ chức ngay bên cột mốc có dòng chữ khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Cộng hoà XHCN Việt Nam.

Tại buổi lễ, trong bài phát biểu của mình, Đại tướng Bộ trưởng Lê Đức Anh đã nhắc lại:

Trong những năm 50 và 60, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là quan hệ hữu nghị, tình sâu nghĩa nặng. Đặc biệt là sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta trong những năm từ 1965 đến 1970 là rất to lớn và có hiệu quả.

Nhân dân Việt Nam vô cùng biết ơn sự giúp đỡ to lớn đó của nhân dân Trung Quốc đã dành cho mình.

Mặt khác, thắng lợi của chúng ta cũng đã góp phần đáng kể phá vỡ sự bao vây của đế quốc Mỹ đối với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa …

Sau khi nêu lên sự kiện ngày 14-3 -1988 vừa qua, tôi nói rằng: Tại sao một số người lãnh đạo Trung Quốc nhân danh gì lại sử dụng vũ lực xâm chiếm một phần lãnh thổ của ta trên biên giới Việt-Trung, chiếm quần đảo Hoàng Sa, nay lại lấn chiếm quần đảo Trường Sa của Tổ quốc chúng ta ?…

Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thật sự trên thực tế, phù hợp với pháp lý quốc tế, với đạo lý quốc tế …

Chúng ta tin tưởng rằng trong tương lai, nhân dân và cán bộ Trung Quốc hiểu rõ sự thật…

Chúng ta nhớ mãi không bao giờ quên tình sâu nghĩa nặng giữa nhân dân hai nước Việt-Trung, kiên trì phấn đấu để khôi phục tình hữu nghị giữa hai nước, đồng thời chúng ta quyết bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc chúng ta …

Hôm nay, giữa trời biển bao la, trước hương hồn của tổ tiên ta, trước hương hồn của các cán bộ, chiến sỹ đã hy sinh vì tổ quốc, xin hứa với đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau:

"Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa- Một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc chúng ta!" Các chiến sỹ Hải quân cùng mọi người dự lễ đã hô vang với ông: "Xin thề!"

Sau đó, dưới sự chỉ đạo của ông, Bộ tổng Tham mưu đã tổ chức cho các quân, binh chủng: Hải quân, Không quân, Phòng không, Đặc công, Thông tin tiến hành diễn tập thực binh chi viện đảo và tiếp tục hoàn chỉnh các phương án phòng thủ.

Qua công tác thăm dò khoáng sản gần đây có dấu hiệu có dầu mỏ, thì việc triển khai công tác phòng thủ nói trên càng có ý nghĩa thiết thực đối với công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc trong công cuộc Đổi mới đất nước…”.

Căn cứ quân sự Hải quân - Không quân Cam Ranh

Người viết bài này nhớ lại, mỗi khi gợi lại và hỏi Đại tướng Lê Đức Anh về chuyện vùng vịnh Cam Ranh và quân cảng Cam Ranh thì mỗi lần ông rất hào hứng, giọng nói của ông phấn chấn hẳn lên:

“Tôi đặc biệt quan tâm đến vị trí này ngay từ khi tôi chưa làm Bộ trưởng Quốc phòng. Bởi vì đây là một trong 3 vịnh tốt nhất của thế giới cùng với San Francisco của Mỹ và Rio de Janeiro của Bra-xin.

Cam Ranh có vị trí chiến lược, một khu vực phòng thủ then chốt của miền Trung và của cả nước, là căn cứ để bảo vệ cả vùng biển rộng lớn và quần đảo Trường Sa.

Ngoài ra, ở Cam Ranh còn có một điều vô cùng quý giá mà không phải cảng biển nào cũng có được là ngay sát mặt nước biển mặn chát lại có một mỏ nước ngọt với trữ lượng lớn.

Biên giới phía Bắc nóng bỏng như vậy, kể cả những trọng điểm như Chi Lăng, Vị Xuyên, Trà Lĩnh, tôi cũng chỉ cố gắng đến được hai lần; vậy mà với Cam Ranh, tôi vào tới bốn, năm lần.

Vậy thì bây giờ xu hướng giải quyết với Liên Xô về Cam Ranh như thế nào, về lực lượng cố vấn như thế nào, tôi nghĩ phải giải quyết có tình có lý, có pháp lý hẳn hoi thì mới xử lý một cách cơ bản và dứt điểm được.

Trước đây, giai đoạn hai Tổng Bí thư Brê-giơ-nép của Liên Xô và Lê Duẩn của Việt Nam lãnh đạo, hai Nhà nước đã ký kết "Hiệp định đoàn kết và hợp tác toàn diện" những gì đã ký kết thì phải tôn trọng, hai bên hỗ trợ, giúp đỡ nhau để thực hiện.

Những gì làm thêm ngoài nội dung ký kết thì phải trao đổi, hai bên đồng thuận thì mới được làm. Chẳng hạn, họ yêu cầu cho khu gia đình của họ ở phía Bắc vào bãi Cam Ranh cho thuận tiện đối với sỹ quan của họ, đây là điểm "làm thêm", ta đồng ý.

Nhưng nếu Liên Xô đưa tàu ngầm nguyên tử vào quân cảng Cam Ranh thì nguy hiểm lắm.

Ta cứ suy luận một cách đơn giản là giờ đây Liên Xô và Trung Quốc coi nhau như kẻ thù, mà Liên Xô đưa tên lửa vào đó thì sẽ chĩa vào Trung Quốc, như vậy tình hình này càng đẩy Trung Quốc liên minh với Mỹ, như vậy càng nguy hiểm cho ta, càng đe doạ đến hoà bình và ổn định ở khu vực và thế giới.

Lại nữa, hãy hình dung xem, cố vấn Liên Xô tiến hành đồng thời việc yêu cầu ta bỏ chế độ Đảng ủy, một đằng đưa toàn bộ 19 sư đoàn chủ lực của ta lên bố trí sát biên giới Trung Quốc, một đằng đưa tàu ngầm vào Cam Ranh thì có phải đã hình thành đội hình một mũi tiến công nhằm vào Trung Quốc và vô hình trung ta trở thành "lính xung kích" trong "chiến lược châu Á-Thái Bình Dương" này không?

Vô hình trung, ta rơi vào vòng xoáy của "mâu thuẫn Mỹ-Xô-Trung" hay không? Nhất định ta phải gỡ để thoát ra khỏi vòng xoáy này.

Khi vào Cam Ranh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh đưa tôi đi thị sát toàn bộ khu vực. Thấy họ khai thác đá và cát trong vịnh để xây dựng kho, xây dựng hầm ngầm, tôi bảo không được, nguy hiểm quá!

Cậu Ninh bảo trước đây ngụy Sài Gòn cũng cho quân Mỹ khai thác đá ở đây để xây dựng các công trình cảng, bây giờ Liên Xô họ cũng lấy tiếp đá ở chỗ này để xây dựng.

Tôi bảo không được! Cứ cho họ khai thác thế này thì Vịnh Cam Ranh sẽ bị sa mạc hóa, nhất định không được, ở đây mỗi cục đá là một cục vàng, cát cũng là vàng, một nhành cây cũng không được chặt mà chỉ có trồng thêm.

Sẽ giải quyết có đá và cát cho họ, nhưng không phải là lấy ở trong vịnh mà phải lấy trong đất liền mang vô.

Trở về Hà Nội, tôi nói luôn điều này với anh Nguyễn Văn Linh và các anh trong Bộ Chính trị, nên khi tôi làm Bộ trưởng Quốc phòng, tôi đề nghị kiên quyết- Một là không đưa vũ khí nguyên tử vào Cam Ranh.

Hai là không khai thác đá và cát trong Vịnh Cam Ranh. Ký kết với Liên Xô thì cần và ký rồi, các anh biết cả rồi, nhưng riêng hai điều này thì ta cấm kỵ.

Các anh đồng ý. Lúc đó, tôi đã nghiên cứu xem trong văn bản hiệp định này có chỗ nào có thể "gỡ" được không.

Thấy trong Hiệp định không có chỗ nào nói đến "hạt nhân và nguyên tử", nên với danh nghĩa Bộ trưởng Quốc phòng, tôi nói với Trưởng đoàn Cố vấn Liên Xô:

"Xin thưa với đồng chí! Trong Hiệp định không đề cập việc đưa “đầu đạn H” vào vịnh Cam Ranh nên đề nghị các đồng chí thực thi nghiêm túc.

Cái thứ hai là, trong văn bản Hiệp nghị không nói, nên các đồng chí không được lấy đá ở trong vịnh để xây dựng công trình, mà phải lấy ở ngoài.

Hơn nữa, văn bản Hiệp nghị cũng không hề nói đến vũ khí hạt nhân nên mọi vũ khí hạt nhân và các phương tiện mang đầu đạn hạt nhân không được có ở đây".

Sau khi Đại sứ Liên Xô điện về nước, họ xin gặp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng của ta, anh Phạm Hùng. Anh Phạm Hùng cho gọi tôi lên, nói qua nói lại. Tôi bảo trong Hiệp nghị không có chuyện hạt nhân, tên lửa.

Hai là trong vịnh Cam Ranh chúng tôi đánh giá mỗi viên đá quý như hòn vàng, chỉ có thêm, tức lấy ở ngoài vào chứ không sả núi lấy đi. Chúng tôi sẽ có đá cho các đồng chí, bao nhiêu cũng được. Rồi Đại sứ họ điện về nước họ.

Trung ương họ điện sang, sự việc êm! Tôi chỉ đạo bộ đội trong Cam Ranh làm một con đường chừng 30 km.

Có con đường vào khai thác đá núi trong đất liền (ở đoạn Hiền Lương phía sau thị trấn Ba Ngòi) chở ra vịnh, cả bộ đội Liên Xô và cả người dân ngoài vịnh rất phấn khởi.

Ta quan hệ và bàn với các nước ASEAN đi đến thoả thuận "Khu vực Đông Nam á là khu vực phi hạt nhân, không có vũ khí hạt nhân".

Ta tham gia và ký vào đó. Các nước Đông Nam Á rất đồng tình, kể cả Phi-líp-pin cũng tích cực vận động vì Phi-líp-pin cũng có căn cứ của Mỹ ở Su-bíc. Mà ta đã ký thì phải giải toả được Cam Ranh.

Ta nói với Liên Xô rằng khi nào có tên lửa đầu đạn thì cho chúng tôi biết, vì nếu không thì vi phạm Hiệp định. Trước đó thì có, về sau, khi ta nói vậy thì họ không cho tàu ngầm vào nữa. Tàu khu trục cũng không vào nữa.

Kho xưởng trước đây sửa chữa đầu đạn tầm xa thì họ cũng ngừng. Ở Cam Ranh chỉ còn lại máy bay trinh sát chiến lược RF.71, trước đây bay 24/24 giờ trong ngày, nay họ cũng giảm bớt.

Việc này ta không nói ra nhưng những người làm quân sự, những nhà quân sự thế giới họ đều biết cả. Khi ta xử lý việc này thì Trung Quốc họ mới yên tâm.

Lúc đó cũng có người hỏi "Tại sao mình lại ký văn bản này với ASEAN?" Tôi bảo ta tham gia được "Hiệp ước không có hạt nhân" là rất may, không tham gia được thì "mệt lắm"!….”.

Đến khi Liên Xô tan rã, Chính phủ Nga thế chân tiếp tục Hiệp nghị, duy trì ở Cam Ranh.

Mặc dù biết rằng Hiệp nghị còn hạn tới năm 2004, nhưng tướng Anh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng và cơ quan của Nhà nước (sau này ông lên làm Chủ tịch nước) đàm đạo một cách khôn khéo, kiên trì và êm dịu để họ rút ra, trao trả quân cảng Cam Ranh cho ta trước thời hạn.

Thực chất khi thấy không đạt được ý định thì họ cũng muốn rút ra. Đại tướng đã nói với các bạn Nga rằng: “Các anh rút, chúng tôi chỉ xây dựng cảng cho Hải quân Việt Nam sử dụng, chứ nhất định không cho bất cứ một nước nào vào đây thuê, cam đoan như vậy!”.

Ngay sau đó, Mỹ cũng vận động thông qua một vài nước ASEAN để thuê quân cảng Cam Ranh, ta nói rõ Việt Nam kiên quyết không chứa, không tàng trữ vũ khí hạt nhân, không cho ai sử dụng đất của mình để có vũ khí hạt nhân ở đó.

Các nước ASEAN rất phấn khởi. Và như vậy, cả Trung Quốc, Nga và Mỹ đều yên tâm.

Tướng Anh nhấn mạnh thêm: “Đây là khu vực hết sức nhạy cảm, là vấn đề lớn lắm; nó tạo sự ổn định lâu dài cho ta và xoá đi cái sự lo ngại của Trung Quốc, của Mỹ và các nước khác.

Sau này Mỹ có dùng một số nước tác động để thuê ta cho tàu của họ vào, thuê cảng chỉ để lấy nước ngọt thôi. Mấy ông lãnh đạo tỉnh Khánh Hoà ưng lắm, cứ ra Trung ương xin ráo riết. Tôi bảo nhất định không được.

Ngay cả cát ở đó cũng rất quý vì hàm lượng si-li-cát rất cao, hạt cát Cam Ranh lóng lánh như thủy tinh.

Cần khẳng định dứt khoát Cam Ranh là căn cứ quân sự tổng hợp Hải quân - Không quân; phải xây dựng, bảo vệ, quản lý vững chắc trong mọi tình huống, duy trì và làm phong phú thêm cảnh quan thiên nhiên, giữ tốt môi trường sinh thái, không được chặt cây phá đá, không đặt vấn đề xây dựng kinh tế hoặc kết hợp kinh tế - quốc phòng ở đây".

Dấu ấn Đại tướng với tuyến phòng thủ Trường Sa và cảng Cam Ranh
Dấu ấn Đại tướng với tuyến phòng thủ Trường Sa và cảng Cam Ranh

Đại tướng Lê Đức Anh thấy rõ một điều cốt tử: Trong việc tăng cường phòng thủ bờ biển, hải đảo và thềm lục địa có hai vấn đề cấp thiết phải giải quyết, đó là khu vực quần đảo Trường Sa và việc thu hồi, quản lý cảng quân sự Cam Ranh.

Bài 1: Đại tướng Lê Đức Anh với vấn đề Trung Quốc và biển Đông

Vận dụng Đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Đại tướng Lê Đức Anh là tác giả của kế sách Bố trí thế phòng thủ chiến lược mới; xây dựng tuyến phòng thủ Trường Sa; Thu hồi quân cảng Cam Ranh trước thời hạn.

Trong suy tư của Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh, một lĩnh vực vô cùng quan trọng là tăng cường năng lực phòng thủ bờ biển, hải đảo, nhất là khu vực quần đảo Trường Sa và vấn đề tư duy, thực hiện ý tưởng thu hồi cảng quân sự Cam Ranh.

Thời điểm sóng gió

Trước khi kể về công việc tướng Lê Đức Anh giải quyết ở Trường Sa và Cam Ranh, người viết bài này xin nói rõ thêm là không bao giờ quên những lời tâm sự, những suy tư của Đại tướng Lê Đức Anh mỗi khi ông ngồi nhớ lại và phân tích về vấn đề an ninh - quốc phòng của ta tại thời điểm “sóng gió” này:

 Sáng nay, 2/2/2015, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã đến dự lễ kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng tại Hà Nội. Ảnh: Thủy Ngọc​

Sáng nay, 2/2/2015, nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã đến dự lễ kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng tại Hà Nội. Ảnh: Thủy Ngọc

“Về an ninh - quốc phòng, có thể nói thuận lợi thì rất cơ bản, nhưng khó khăn cũng lớn, nó có từ giữa nhiệm kỳ 5, phát triển kéo dài tới Đại hội 6 và tới Đại hội 7.

Về mặt quốc phòng của ta, cần nhận rõ giai đoạn này ta đang ở trong vòng xoáy của các mối mâu thuẫn: Trước hết là mâu thuẫn giữa ta với Mỹ.

Tuy ta đã thắng Mỹ trong chiến tranh Việt Nam, nhưng Mỹ còn duy trì mâu thuẫn với ta, như phần trên đã nói, Mỹ còn muốn ngăn chặn ảnh hưởng của Việt Nam, của tinh thần độc lập tự chủ của Việt Nam đối với khu vực và phong trào cách mạng thế giới, và Mỹ đã và đang thực hiện mong muốn, mục đích đó bằng phương thức bên trong, tức là nội bộ ta thì tiến hành diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ, bên ngoài thì dùng nước thứ ba mà cụ thể là tập đoàn Pôn Pốt ở Campuchia đánh ta từ biên giới Tây Nam làm cho ta suy yếu, mất ổn định, vừa chấm dứt chiến tranh giải phóng lại lâm vào cuộc xung đột, cuộc chiến tranh mới, như vậy thì ta không thể bắt tay vào củng cố và xây dựng kinh tế đất nước phát triển được.

Hai là mâu thuẫn giữa ta và Trung Quốc, trước đây đã có lúc có những sự bất đồng, sau giải phóng miền Nam 1975 thì nổi lên mâu thuẫn.

Ba là tồn tại một số mâu thuẫn giữa ta và Liên Xô. Sau giải phóng miền Nam, ta muốn độc lập tự chủ và đi lên, Liên Xô thì giúp ta nhưng lại muốn áp đặt, muốn ta đi vào quỹ đạo trong chiến lược của họ.

Mà thực chất kế hoạch chiến lược của Liên Xô là kế hoạch chiến lược với Mỹ và Trung Quốc.

Mâu thuẫn Trung-Xô chuyển thành mâu thuẫn đối kháng, trước đây đã có rồi, bây giờ tăng lên. Mâu thuẫn Mỹ-Xô cũng là mâu thuẫn đối kháng, rồi xuất hiện xu hướng Mỹ-Trung liên kết để chống Liên Xô, mà chống bằng "con bài Việt Nam", vì vậy ta bị rơi vào vòng xoáy của các mối mâu thuẫn đó.

Lúc cao điểm nhất, quân số thường trực của ta đã đưa lên đến 1,3 triệu mà không yên tâm. Do vậy đang có ý định phấn đấu đưa lên đến 1,6 triệu, nhưng bố trí như vậy cũng không ai yên tâm.

Trong khi đó mâu thuẫn nội bộ trong nước tăng lên, chi phí quốc phòng tăng lên, đời sống đã khó khăn càng khó khăn hơn trước, nó tác động xấu vào nền kinh tế, về xã hội và đời sống của nhân dân ta rất lớn.

Tăng quân số, tăng chi phí quốc phòng nhưng mặt quốc phòng cũng không an toàn, nguy cơ của độc lập dân tộc trên lĩnh vực quốc phòng tăng lên.

Lúc này, vấn đề đặt ra là làm thế nào để thoát ra khỏi vòng xoáy của mâu thuẫn này mà vẫn giữ được độc lập dân tộc? Mà cái này nói rộng ra không được.

Làm sao trong Đảng thấy được nhưng lại không thể đưa ra bàn rộng rãi, giờ gỡ thế nào thì một người không thể nghĩ ra cách gì để giải quyết được hết và có hiệu quả.

Phải phát huy trí tuệ của tập thể Bộ Chính trị và đề cao vai trò trách nhiệm dám nghĩ dám làm của từng cá nhân thành viên. Vì vậy tình hình nó đặt ra yêu cầu về điều chuyển chiến lược là ở chỗ đó.

Trong điều chuyển chiến lược có vấn đề bố trí lại đội hình chiến lược, nhưng không phải là bố trí cơ học một cách thuần túy những đơn vị chủ lực cơ động của Bộ, của các quân khu và lực lượng bộ đội địa phương hiện có.

Tôi cứ nung nấu một suy nghĩ là trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại vừa qua, chính nhờ có "Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh" và "Đường lối chiến tranh nhân dân" của Đảng ta nên cuộc kháng chiến của nhân dân ta đã giành thắng lợi.

Mà vấn đề bản chất nhất, cốt tử nhất của Đường lối chiến tranh nhân dân và Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh là phát huy sức mạnh của toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, tuy nhiên là có tranh thủ được sự giúp đỡ của bè bạn và quốc tế.

Vậy thì bây giờ ta vận dụng nguyên lý này vào giai đoạn đầu tiên của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta mới khởi xướng, mà cụ thể là vận dụng một cách khoa học, nhuần nhuyễn Đường lối chiến tranh nhân dân và Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh vào tình hình nhiệm vụ của giai đoạn mới này như thế nào.

Nói một cách khác là điều chuyển chiến lược, bố trí đội hình chiến lược như thế nào để bảo đảm việc phát huy được sức mạnh toàn dân, toàn diện trong điều kiện đánh lâu dài, tạo nên sức mạnh phòng thủ đất nước vừa luôn sẵn sàng vừa đủ sức mạnh chống được mọi tình huống chiến tranh.

Sau khi báo cáo, trình bày ý tưởng của mình, được Bộ Chính trị nhất trí và đồng tình ủng hộ, tôi triển khai tổ chức thực hiện.

Lúc đó, tất cả các cơ quan Bộ Quốc phòng, trong đó nòng cốt là cơ quan Tác chiến và Quân lực, Bộ Tổng tham mưu do anh Đoàn Khuê làm Tổng tham mưu trưởng, tiến hành nghiên cứu biên soạn và triển khai tổ chức thực hiện trên phạm vi toàn quốc.

Như trên tôi nói, không phải là sự bố trí cơ học thuần túy vị trí đứng chân của từng đơn vị, mà công việc bố trí đội hình chiến lược lúc này phải trên nền tảng của tư duy mới.

Đó là việc xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành vững bền để vừa chống được diễn biến hoà bình, vừa chống được bạo loạn lật đổ và những nguy cơ chiến tranh do cấp ủy Đảng trực tiếp lãnh đạo và điều hành. Đây là vấn đề rất cơ bản.

Nói cụ thể ra, Bí thư Tỉnh ủy phải đồng thời là Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng của tỉnh, là Bí thư Đảng ủy quân sự tỉnh, phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ huy việc xây dựng và phát huy tác dụng khu vực phòng thủ tỉnh, thành; xây dựng, điều động và chỉ huy các lực lượng vũ trang và lực lượng quần chúng tại chỗ cả trong tình huống chống diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ, cả trong tình huống có chiến tranh hoặc xung đột vũ trang.

Cơ quan quân sự tỉnh-thành là cơ quan tham mưu chỉ huy về công tác quân sự cho lãnh đạo tỉnh- thành. Rồi xây dựng sự liên kết giữa các khu vực phòng thủ với nhau.

Xác định rõ các "Khu vực phòng thủ then chốt", có sự kết hợp giữa các lực lượng vũ trang của quân khu và của Bộ, kết hợp giữa lực lượng chủ lực cơ động của quân khu và chủ lực cơ động của Trung ương. Đặc biệt tăng cường phòng thủ bờ biển, hải đảo và thềm lục địa.

Chú trọng xây dựng công nghiệp quốc phòng tự chủ, có lực lượng cán bộ và nhân viên khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển.

Phương hướng là ta sẽ giảm quân thường trực với số lượng lớn nhưng lực lượng làm khoa học (khoa học tự nhiên và khoa học xã hội) chỉ nên tăng lên chứ không giảm.

Rất chú ý khâu bảo quản và hiện đại hoá vũ khí, nhất là các lĩnh vực: Phòng không, tăng- thiết giáp, cơ giới …; tiến tới tự động hoá pháo phòng không tầm trung và tầm cao. Hải quân thì tàu 5000 tấn tiến lên một vạn tấn.

Khi tôi đưa ra Bộ Tổng tham mưu thảo luận vấn đề này thì đều nhất trí. Đưa vào báo cáo một số anh: Anh Linh, anh Dũng, anh Mân, anh Võ Chí Công, Võ Văn Kiệt đều đồng tình.

Rồi anh Đỗ Mười, anh Tố Hữu đều đồng tình. Có anh hỏi tôi "Phía đối phương như thế nào?" Tôi bảo, nếu một thế lực nào đó định xuất quân đánh ta, thì ta xác định đánh lâu dài; ta bố trí đội hình kiểu này để đánh lâu dài thì nó vững hơn.

Khi chính thức đưa ra bàn trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư thì cũng nhanh chóng đạt được sự nhất trí cao vì trước đó tôi đã gặp, báo cáo và trao đổi với từng anh, các anh đã nhất trí và đồng tình, đều nói là "Được!" vì thấy như vậy là vững.

Tiến hành đồng thời với việc điều chỉnh bố trí đội hình chiến lược là việc tính toán cụ thể rồi lên kế hoạch giảm quân số để trực tiếp giảm chi phí quốc phòng.

Điều này tôi và anh Nguyễn Văn Linh đã nung nấu từ trước nhưng đến thời điểm này mới cho phép ta thực hiện, bởi không thể để kéo dài tình trạng ngân sách quốc phòng cứ chiếm tới 25% tổng thu nhập quốc dân, trong đó chưa tính đến trang bị, trong khi nền kinh tế đang trong tình trạng suy kiệt và khủng hoảng trầm trọng, lạm phát lên tới 774%.

Nhất định phải giảm quân số thường trực để làm nhẹ bớt gánh nặng chi phí quốc phòng là trực tiếp góp phần đáng kể giải quyết khủng hoảng, trực tiếp góp sức vào công cuộc "Đổi mới đất nước" mà Đảng ta vừa khởi xướng.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc sức khỏe Đại tướng Lê Đức Anh tháng 12/2014. Ảnh: VietNamNet
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chúc sức khỏe Đại tướng Lê Đức Anh tháng 12/2014. Ảnh: VietNamNet

Lúc này Bộ Chính trị không hề áp đặt mức giảm bao nhiêu mà nói rằng Bộ Quốc phòng cứ tính toán. Các đồng chí phụ trách kinh tế cũng hoàn toàn đồng ý và nói rằng "Về mặt ngân sách, Quốc phòng cứ tính toán, làm sao cho vừa".

Tôi đưa ra con số giảm trên 60% số quân thường trực và xin từ 15% đến 18% ngân sách thu trong nước chứ không phải tổng ngân sách, càng không phải tỷ lệ này so với tổng thu nhập quốc dân.

Khi đưa ra con số này thì Bộ Chính trị nhất trí hoàn toàn, ai nấy đều phấn khởi và thấy nhẹ hẳn đi, gánh nặng ngân sách quốc phòng sẽ được giải quyết một cách cơ bản (…).

Từ việc nghiên cứu tài liệu, đi khảo sát thực địa rồi suy ngẫm, Đại tướng Lê Đức Anh thấy rõ ra một nội dung có tính cốt tử:

Trong việc tăng cường phòng thủ bờ biển, hải đảo và thềm lục địa có hai vấn đề nổi lên rất quan trọng và cấp thiết cần phải giải quyết - Đó là khu vực quần đảo Trường Sa và việc thu hồi, quản lý cảng quân sự Cam Ranh.

Đại tướng chỉ thị cho Quân khu 4, Quân khu 5 và Bộ tư lệnh Hải quân theo dõi chặt các biến động trên vùng biển Đông, chuẩn bị người và phương tiện để đối phó với các tình huống xảy ra.

Cuối tháng 2-1987, Bộ trưởng Quốc phòng một mặt chỉ thị cho Quân chủng Hải quân đưa lực lượng ra đóng giữ bãi đá ngầm Thuyền Chài, một mặt trình lên Trung ương chủ trương và kế hoạch giữ đảo.

Ngày 20-3-1987 đã được Ban Bí thư phê chuẩn, và ngày 9-4-1987 đã được Hội đồng Bộ trưởng giải quyết vật tư, tài chính cho công việc này.

Cuối tháng 3-1987, Đại tướng Bộ trưởng xuống làm việc với Bộ tư lệnh Hải quân và chỉ thị rõ: “Phải thấy hết vị trí chiến lược của biển Đông. Trước tiên phải lo phòng thủ Trường Sa, nơi có thể xảy ra xung đột.

Ta phải hành động kiên quyết như vừa rồi đóng ở Thuyền Chài; các đồng chí suy nghĩ mọi cách để xây dựng Hải quân mạnh như mong muốn của toàn quân”.

Trong hai tháng 5 và 6/1987, quân chủng Hải quân đã phái các tàu đi khảo sát lần cuối các bãi đá ngầm để lập kế hoạch đóng giữ.

Ngày 10-6-1987, ông vào Cam Ranh, tiếp tục làm việc với Bộ tư lệnh Hải quân và Vùng 4, ông đã nói rõ thêm:

“Từ những năm 50, nằm trong ý đồ chiến lược của mình, Trung Quốc đã có ý định chiếm Hoàng Sa rồi Trường Sa.

Ta phải nỗ lực cao nhất để bảo vệ quần đảo Trường Sa, tăng cường khả năng phòng thủ tại chỗ, đóng giữ các đảo còn chìm, coi trọng việc chi viện từ bờ ra.

Vừa qua Quốc phòng chưa làm hết sức, cả nước chưa làm hết sức. Nay ta phải làm, làm cho ngày nay và cho thế hệ mai sau”.

Ngày 24 và 25 tháng 10-1987, Bộ tư lệnh Hải quân và Bộ tổng Tham mưu trình lên phương án đóng giữ các bãi đá ngầm.

Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh và ông Đỗ Mười, Thường trực Ban Bí thư đã nhất trí duyệt phương án đó. Đến ngày hôm sau, 26 tháng 10, ông Đỗ Mười đã chủ trì cuộc họp Ban Bí thư về vấn đề Trường Sa để chuẩn bị báo cáo trình lên Bộ Chính trị.

Tại cuộc họp, Thượng tướng - Tổng tham mưu trưởng Đào Đình Luyện, thay mặt Bộ tổng Tham mưu đã báo cáo tình hình khẩn trương ở Trường Sa, đề nghị Bộ Ngoại giao ra tuyên bố phản đối Trung Quốc cho Hải quân xuống Trường Sa.

Tăng cường sự có mặt của Việt Nam ở biển Đông

Đến ngày 6-11-1987, tướng Anh ra Mệnh lệnh (Số 1679/ML) giao nhiệm vụ cho Bộ tư lệnh Hải quân:

"Đưa lực lượng ra đóng giữ các bãi đá cạn chưa có người, không chờ xin chỉ thị cấp trên; trước mắt đưa ngay lực lượng ra đóng giữ Đá Tây, Đá Chữ Thập, Đá Lớn, Đá Tiên Nữ! …”

Và, đến ngày 30 tháng 11 đó, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 06, chỉ rõ: "Nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của nước ta đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bảo vệ vững chắc quần đảo Trường Sa và tăng cường sự có mặt của Việt Nam ở biển Đông là nhiệm vụ của cả nước, không phải riêng của các lực lượng vũ trang …"

Chiến sĩ hải quân ở Trường Sa. Ảnh: Minh Thăng
Chiến sĩ hải quân ở Trường Sa. Ảnh: Minh Thăng

Cuối năm 1987 và tháng 1-1988, Bộ tổng Tham mưu và Tổng cục Chính trị đã tổ chức hội nghị giao nhiệm vụ cho các Quân chủng: Hải quân, Phòng không và Không quân, kế hoạch hiệp đồng tác chiến giữa 3 quân chủng để bảo vệ Trường Sa.

Tư lệnh Vùng 4 Hải quân đã đưa lực lượng ra đóng giữ Đá Tây, Đá Chữ Thập … nhưng gió to sóng lớn, các con tàu vận tải nhỏ của Hải quân bị đứt neo, phải trở về căn cứ.

Và rồi, đúng như tiên đoán của ông, Trung Quốc đã cho lực lượng hải quân xuống tiến công chiếm đảo, bắn chìm tàu của ta.

Chiều 13-2-1988, làm việc với Tư lệnh Hải quân, tướng Anh đã phê phán nghiêm khắc việc để mất Đá Chữ Thập và giao cho Tư lệnh Quân chủng kiêm nhiệm Tư lệnh Vùng 4 Hải quân.

Ngày 17 tháng 2, đúng mồng 1 Tết Nhâm Thìn, Bộ tư lệnh Hải quân vào sở chỉ huy Vùng 4 ở Cam Ranh để trực tiếp chỉ huy các đơn vị.

Hai ngày sau, ông gửi báo cáo lên Ban Bí thư, Hội đồng Bộ trưởng và Bộ Ngoại giao đề nghị giải quyết một số vấn đề cấp bách như tàu vận chuyển hàng ra Trường Sa, cấp kinh phí, vật tư cho Hải quân, tiến hành đấu tranh ngoại giao và tranh thủ dư luận rộng rãi liên tục trong nước và quốc tế.

Đại tướng Lê Đức Anh phát biểu tại Trường Sa Lớn năm 1988
Đại tướng Lê Đức Anh phát biểu tại Trường Sa Lớn năm 1988

Ngày 22-2-1988, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng đã ký quyết định giải quyết những vấn đề cấp bách cho bộ đội Trường Sa.

Ngay sau đó, các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng đã làm việc với các cơ quan Nhà nước để tiếp nhận vật tư, trang bị, tài chính cho Hải quân, về cơ bản là đạt kế hoạch.

Trong những ngày này, quân và dân cả nước chăm chú và lo lắng theo dõi tình hình ở Trường Sa.

Bộ Ngoại giao ta đã gặp các Đại sứ để thông báo tình hình Trung Quốc cho Hải quân xâm phạm lãnh thổ Việt Nam ở quần đảo Trường Sa, đe dọa an ninh của Việt Nam và các nước trong khu vực, gây tình hình căng thẳng và mất ổn định ở Đông Nam Á.

Một phong trào của quần chúng chi viện Trường Sa, lên án Trung Quốc nổi lên nhanh chóng trên phạm vi cả nước.

Quân chủng Hải quân đã có 1 kế hoạch tỉ mỉ cho lực lượng tàu vận tải và bộ đội công binh cùng một lúc vào sáng 14-3-1988 đến đóng giữ 3 bãi đá ngầm: Gạc Ma, Len Đao và Cô Lin ở phía nam cụm đảo Sinh Tồn.

Nhưng ngay trong đêm 13-3, Trung Quốc đã điều 5 tàu đến khu vực này, sáng sớm ngày 14 đã bắn cháy 3 tàu của ta (Số 604, 605 và 505), làm ta hy sinh 3, bị thương 11 và mất tích 74 đồng chí. Họ chiếm Gạc Ma, ta đóng giữ được Cô Lin và Len Đao.

Hàng chục đồng chí bơi được về đảo Sinh Tồn. Nhiều tấm gương chiến đấu dũng cảm đã xuất hiện. Ta dùng máy bay AH-26 tiếp tế thuốc men, quần áo cho đảo Sinh Tồn bằng thả dù, đã có tác dụng tốt…

Ngày 16-3-1988, Bộ Chính trị đã họp và có kết luận về nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa. Nhiều nước trên thế giới lên tiếng ủng hộ lập trường và chủ quyền của ta.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh, cục phó Cục Tác chiến, người được giao chuyên trách theo dõi về biển đảo kể lại:

“Sau Giải phóng miền Nam-1975, tại khu vực quần đảo Trường Sa, ta đứng chân 7 điểm-đảo.

Từ ngày nhậm chức Tổng tham mưu Trưởng, rồi Bộ trưởng Quốc phòng, mặc dù đang phải tập trung giải quyết nhiệm vụ tác chiến trên biên giới phía Bắc nhưng ông Lê Đức Anh vẫn giành thời gian đi khảo sát trực tiếp tại Trường Sa.

Ông nói với anh em Tác chiến chúng tôi là sớm muộn gì thì Trung Quốc cũng sẽ đưa quân xuống đây.

Và rồi, trước sự giải trình và đề nghị rất thuyết phục của ông, mặc dù lúc đó ta đang lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội, rất khó khăn, nhưng đề nghị của ông vẫn được Bộ Chính trị phê duyệt; và Chính phủ đã tìm mọi cách để giành một phần ngân sách cho bộ đội Hải quân và Công binh tiến hành xây dựng các “nhà giàn” và “chòi canh” để đưa quân ra chốt giữ tại các đảo “nửa nổi nửa chìm”. Kết thúc đợt đó, số điểm-đảo của ta chốt giữ đã lên con số 21, tức gấp ba lần trước đó.

Từ ngày 4 đến 9-5-1988, mặc dù lúc này sức khoẻ của Đại tướng Bộ trưởng không được tốt, nhưng ông vẫn yêu cầu tôi và một số cán bộ Bộ tổng Tham mưu đưa ông ra thị sát trực tiếp tình hình bộ đội chốt giữ ở quần đảo Trường Sa.

Trước đó, ngày 12 tháng 4, ta công bố công khai 21 điểm mà ta đã đóng quân từ trước tới nay. Ngày 7 tháng 5, ông chỉ đạo cho Bộ tư lệnh Hải quân tổ chức lễ kỷ niệm ngày truyền thống của Quân chủng tại đảo Trường Sa Lớn.

Tới dự có đại diện các cơ quan của Bộ quốc phòng, các quân chủng và Tỉnh ủy tỉnh Phú Khánh. Lễ mít tinh tổ chức ngay bên cột mốc có dòng chữ khẳng định chủ quyền lãnh thổ của Cộng hoà XHCN Việt Nam.

Tại buổi lễ, trong bài phát biểu của mình, Đại tướng Bộ trưởng Lê Đức Anh đã nhắc lại:

Trong những năm 50 và 60, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc là quan hệ hữu nghị, tình sâu nghĩa nặng. Đặc biệt là sự giúp đỡ của Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta trong những năm từ 1965 đến 1970 là rất to lớn và có hiệu quả.

Nhân dân Việt Nam vô cùng biết ơn sự giúp đỡ to lớn đó của nhân dân Trung Quốc đã dành cho mình.

Mặt khác, thắng lợi của chúng ta cũng đã góp phần đáng kể phá vỡ sự bao vây của đế quốc Mỹ đối với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa …

Sau khi nêu lên sự kiện ngày 14-3 -1988 vừa qua, tôi nói rằng: Tại sao một số người lãnh đạo Trung Quốc nhân danh gì lại sử dụng vũ lực xâm chiếm một phần lãnh thổ của ta trên biên giới Việt-Trung, chiếm quần đảo Hoàng Sa, nay lại lấn chiếm quần đảo Trường Sa của Tổ quốc chúng ta ?…

Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thật sự trên thực tế, phù hợp với pháp lý quốc tế, với đạo lý quốc tế …

Chúng ta tin tưởng rằng trong tương lai, nhân dân và cán bộ Trung Quốc hiểu rõ sự thật…

Chúng ta nhớ mãi không bao giờ quên tình sâu nghĩa nặng giữa nhân dân hai nước Việt-Trung, kiên trì phấn đấu để khôi phục tình hữu nghị giữa hai nước, đồng thời chúng ta quyết bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc chúng ta …

Hôm nay, giữa trời biển bao la, trước hương hồn của tổ tiên ta, trước hương hồn của các cán bộ, chiến sỹ đã hy sinh vì tổ quốc, xin hứa với đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau:

"Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa- Một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc chúng ta!" Các chiến sỹ Hải quân cùng mọi người dự lễ đã hô vang với ông: "Xin thề!"

Sau đó, dưới sự chỉ đạo của ông, Bộ tổng Tham mưu đã tổ chức cho các quân, binh chủng: Hải quân, Không quân, Phòng không, Đặc công, Thông tin tiến hành diễn tập thực binh chi viện đảo và tiếp tục hoàn chỉnh các phương án phòng thủ.

Qua công tác thăm dò khoáng sản gần đây có dấu hiệu có dầu mỏ, thì việc triển khai công tác phòng thủ nói trên càng có ý nghĩa thiết thực đối với công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc trong công cuộc Đổi mới đất nước…”.

Căn cứ quân sự Hải quân - Không quân Cam Ranh

Người viết bài này nhớ lại, mỗi khi gợi lại và hỏi Đại tướng Lê Đức Anh về chuyện vùng vịnh Cam Ranh và quân cảng Cam Ranh thì mỗi lần ông rất hào hứng, giọng nói của ông phấn chấn hẳn lên:

“Tôi đặc biệt quan tâm đến vị trí này ngay từ khi tôi chưa làm Bộ trưởng Quốc phòng. Bởi vì đây là một trong 3 vịnh tốt nhất của thế giới cùng với San Francisco của Mỹ và Rio de Janeiro của Bra-xin.

Cam Ranh có vị trí chiến lược, một khu vực phòng thủ then chốt của miền Trung và của cả nước, là căn cứ để bảo vệ cả vùng biển rộng lớn và quần đảo Trường Sa.

Ngoài ra, ở Cam Ranh còn có một điều vô cùng quý giá mà không phải cảng biển nào cũng có được là ngay sát mặt nước biển mặn chát lại có một mỏ nước ngọt với trữ lượng lớn.

Biên giới phía Bắc nóng bỏng như vậy, kể cả những trọng điểm như Chi Lăng, Vị Xuyên, Trà Lĩnh, tôi cũng chỉ cố gắng đến được hai lần; vậy mà với Cam Ranh, tôi vào tới bốn, năm lần.

Vậy thì bây giờ xu hướng giải quyết với Liên Xô về Cam Ranh như thế nào, về lực lượng cố vấn như thế nào, tôi nghĩ phải giải quyết có tình có lý, có pháp lý hẳn hoi thì mới xử lý một cách cơ bản và dứt điểm được.

Trước đây, giai đoạn hai Tổng Bí thư Brê-giơ-nép của Liên Xô và Lê Duẩn của Việt Nam lãnh đạo, hai Nhà nước đã ký kết "Hiệp định đoàn kết và hợp tác toàn diện" những gì đã ký kết thì phải tôn trọng, hai bên hỗ trợ, giúp đỡ nhau để thực hiện.

Những gì làm thêm ngoài nội dung ký kết thì phải trao đổi, hai bên đồng thuận thì mới được làm. Chẳng hạn, họ yêu cầu cho khu gia đình của họ ở phía Bắc vào bãi Cam Ranh cho thuận tiện đối với sỹ quan của họ, đây là điểm "làm thêm", ta đồng ý.

Nhưng nếu Liên Xô đưa tàu ngầm nguyên tử vào quân cảng Cam Ranh thì nguy hiểm lắm.

Ta cứ suy luận một cách đơn giản là giờ đây Liên Xô và Trung Quốc coi nhau như kẻ thù, mà Liên Xô đưa tên lửa vào đó thì sẽ chĩa vào Trung Quốc, như vậy tình hình này càng đẩy Trung Quốc liên minh với Mỹ, như vậy càng nguy hiểm cho ta, càng đe doạ đến hoà bình và ổn định ở khu vực và thế giới.

Lại nữa, hãy hình dung xem, cố vấn Liên Xô tiến hành đồng thời việc yêu cầu ta bỏ chế độ Đảng ủy, một đằng đưa toàn bộ 19 sư đoàn chủ lực của ta lên bố trí sát biên giới Trung Quốc, một đằng đưa tàu ngầm vào Cam Ranh thì có phải đã hình thành đội hình một mũi tiến công nhằm vào Trung Quốc và vô hình trung ta trở thành "lính xung kích" trong "chiến lược châu Á-Thái Bình Dương" này không?

Vô hình trung, ta rơi vào vòng xoáy của "mâu thuẫn Mỹ-Xô-Trung" hay không? Nhất định ta phải gỡ để thoát ra khỏi vòng xoáy này.

Khi vào Cam Ranh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Ninh đưa tôi đi thị sát toàn bộ khu vực. Thấy họ khai thác đá và cát trong vịnh để xây dựng kho, xây dựng hầm ngầm, tôi bảo không được, nguy hiểm quá!

Cậu Ninh bảo trước đây ngụy Sài Gòn cũng cho quân Mỹ khai thác đá ở đây để xây dựng các công trình cảng, bây giờ Liên Xô họ cũng lấy tiếp đá ở chỗ này để xây dựng.

Tôi bảo không được! Cứ cho họ khai thác thế này thì Vịnh Cam Ranh sẽ bị sa mạc hóa, nhất định không được, ở đây mỗi cục đá là một cục vàng, cát cũng là vàng, một nhành cây cũng không được chặt mà chỉ có trồng thêm.

Sẽ giải quyết có đá và cát cho họ, nhưng không phải là lấy ở trong vịnh mà phải lấy trong đất liền mang vô.

Trở về Hà Nội, tôi nói luôn điều này với anh Nguyễn Văn Linh và các anh trong Bộ Chính trị, nên khi tôi làm Bộ trưởng Quốc phòng, tôi đề nghị kiên quyết- Một là không đưa vũ khí nguyên tử vào Cam Ranh.

Hai là không khai thác đá và cát trong Vịnh Cam Ranh. Ký kết với Liên Xô thì cần và ký rồi, các anh biết cả rồi, nhưng riêng hai điều này thì ta cấm kỵ.

Các anh đồng ý. Lúc đó, tôi đã nghiên cứu xem trong văn bản hiệp định này có chỗ nào có thể "gỡ" được không.

Thấy trong Hiệp định không có chỗ nào nói đến "hạt nhân và nguyên tử", nên với danh nghĩa Bộ trưởng Quốc phòng, tôi nói với Trưởng đoàn Cố vấn Liên Xô:

"Xin thưa với đồng chí! Trong Hiệp định không đề cập việc đưa “đầu đạn H” vào vịnh Cam Ranh nên đề nghị các đồng chí thực thi nghiêm túc.

Cái thứ hai là, trong văn bản Hiệp nghị không nói, nên các đồng chí không được lấy đá ở trong vịnh để xây dựng công trình, mà phải lấy ở ngoài.

Hơn nữa, văn bản Hiệp nghị cũng không hề nói đến vũ khí hạt nhân nên mọi vũ khí hạt nhân và các phương tiện mang đầu đạn hạt nhân không được có ở đây".

Sau khi Đại sứ Liên Xô điện về nước, họ xin gặp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng của ta, anh Phạm Hùng. Anh Phạm Hùng cho gọi tôi lên, nói qua nói lại. Tôi bảo trong Hiệp nghị không có chuyện hạt nhân, tên lửa.

Hai là trong vịnh Cam Ranh chúng tôi đánh giá mỗi viên đá quý như hòn vàng, chỉ có thêm, tức lấy ở ngoài vào chứ không sả núi lấy đi. Chúng tôi sẽ có đá cho các đồng chí, bao nhiêu cũng được. Rồi Đại sứ họ điện về nước họ.

Trung ương họ điện sang, sự việc êm! Tôi chỉ đạo bộ đội trong Cam Ranh làm một con đường chừng 30 km.

Có con đường vào khai thác đá núi trong đất liền (ở đoạn Hiền Lương phía sau thị trấn Ba Ngòi) chở ra vịnh, cả bộ đội Liên Xô và cả người dân ngoài vịnh rất phấn khởi.

Ta quan hệ và bàn với các nước ASEAN đi đến thoả thuận "Khu vực Đông Nam á là khu vực phi hạt nhân, không có vũ khí hạt nhân".

Ta tham gia và ký vào đó. Các nước Đông Nam Á rất đồng tình, kể cả Phi-líp-pin cũng tích cực vận động vì Phi-líp-pin cũng có căn cứ của Mỹ ở Su-bíc. Mà ta đã ký thì phải giải toả được Cam Ranh.

Ta nói với Liên Xô rằng khi nào có tên lửa đầu đạn thì cho chúng tôi biết, vì nếu không thì vi phạm Hiệp định. Trước đó thì có, về sau, khi ta nói vậy thì họ không cho tàu ngầm vào nữa. Tàu khu trục cũng không vào nữa.

Kho xưởng trước đây sửa chữa đầu đạn tầm xa thì họ cũng ngừng. Ở Cam Ranh chỉ còn lại máy bay trinh sát chiến lược RF.71, trước đây bay 24/24 giờ trong ngày, nay họ cũng giảm bớt.

Việc này ta không nói ra nhưng những người làm quân sự, những nhà quân sự thế giới họ đều biết cả. Khi ta xử lý việc này thì Trung Quốc họ mới yên tâm.

Lúc đó cũng có người hỏi "Tại sao mình lại ký văn bản này với ASEAN?" Tôi bảo ta tham gia được "Hiệp ước không có hạt nhân" là rất may, không tham gia được thì "mệt lắm"!….”.

Đến khi Liên Xô tan rã, Chính phủ Nga thế chân tiếp tục Hiệp nghị, duy trì ở Cam Ranh.

Mặc dù biết rằng Hiệp nghị còn hạn tới năm 2004, nhưng tướng Anh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng và cơ quan của Nhà nước (sau này ông lên làm Chủ tịch nước) đàm đạo một cách khôn khéo, kiên trì và êm dịu để họ rút ra, trao trả quân cảng Cam Ranh cho ta trước thời hạn.

Thực chất khi thấy không đạt được ý định thì họ cũng muốn rút ra. Đại tướng đã nói với các bạn Nga rằng: “Các anh rút, chúng tôi chỉ xây dựng cảng cho Hải quân Việt Nam sử dụng, chứ nhất định không cho bất cứ một nước nào vào đây thuê, cam đoan như vậy!”.

Ngay sau đó, Mỹ cũng vận động thông qua một vài nước ASEAN để thuê quân cảng Cam Ranh, ta nói rõ Việt Nam kiên quyết không chứa, không tàng trữ vũ khí hạt nhân, không cho ai sử dụng đất của mình để có vũ khí hạt nhân ở đó.

Các nước ASEAN rất phấn khởi. Và như vậy, cả Trung Quốc, Nga và Mỹ đều yên tâm.

Tướng Anh nhấn mạnh thêm: “Đây là khu vực hết sức nhạy cảm, là vấn đề lớn lắm; nó tạo sự ổn định lâu dài cho ta và xoá đi cái sự lo ngại của Trung Quốc, của Mỹ và các nước khác.

Sau này Mỹ có dùng một số nước tác động để thuê ta cho tàu của họ vào, thuê cảng chỉ để lấy nước ngọt thôi. Mấy ông lãnh đạo tỉnh Khánh Hoà ưng lắm, cứ ra Trung ương xin ráo riết. Tôi bảo nhất định không được.

Ngay cả cát ở đó cũng rất quý vì hàm lượng si-li-cát rất cao, hạt cát Cam Ranh lóng lánh như thủy tinh.

Cần khẳng định dứt khoát Cam Ranh là căn cứ quân sự tổng hợp Hải quân - Không quân; phải xây dựng, bảo vệ, quản lý vững chắc trong mọi tình huống, duy trì và làm phong phú thêm cảnh quan thiên nhiên, giữ tốt môi trường sinh thái, không được chặt cây phá đá, không đặt vấn đề xây dựng kinh tế hoặc kết hợp kinh tế - quốc phòng ở đây".

Category 5

Category 6

Category 7

 
Copyright © 2014 Tin Nhanh Trên Mạng