Business

a

From our Blog

Hiển thị các bài đăng có nhãn Quân sự. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Quân sự. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 14 tháng 3, 2016

Triều Tiên mô phỏng thành công đầu đạn hạt nhân quay lại khí quyển

Triều Tiên mô phỏng thành công đầu đạn hạt nhân quay lại khí quyển
Triều Tiên mô phỏng thành công đầu đạn hạt nhân quay lại khí quyển

AFP đưa tin ngày 15/3, Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-Un cho biết nước này đã thử thành công trong phòng thí nghiệm về khả năng quay trở lại khí quyển của đầu đạn hạt nhân, sau khi tuyên bố Bình Nhưỡng sẽ thử đầu đạn hạt nhân và tên lửa đạn đạo trong thời gian tới.

Hãng thông tấn KCNA cho biết ông Kim Jong-Un trước đó đã ra lệnh tiến hành mô phỏng để đánh giá mức độ ổn định nhiệt của đầu đạn lắp ở đầu của tên lửa, được thiết kế và sản xuất bằng các nỗ lực và công nghệ trong nước, cũng như mức độ mòn của nguyên liệu phủ chống nhiệt.

KCNA cũng đưa tin “ông Kim Jong-Un tuyên bố rằng việc thử kích nổ đầu đạn hạt nhân và phóng nhiều loại tên lửa đạn đạo có thể mang đầu đạn hạt nhân sẽ sớm được thực hiện, nhằm tăng cường hơn nữa độ tin cậy của khả năng tấn công hạt nhân.

Đích thân nhà lãnh đạo đã chỉ thị các cơ quan liên quan chuẩn bị cho việc này đến tận chi tiết cuối cùng.”

Nếu được kiểm chứng, khả năng chế tạo một đầu đạn có thể chịu được nhiệt độ cao và chấn động mạnh trong quá trình quay trở lại khí quyển sẽ là một bước tiến quan trọng trong năng lực tấn công hạt nhân của Triều Tiên, đồng thời là mối đe dọa rõ rệt đối với lục địa Mỹ.

Triều Tiên mô phỏng thành công đầu đạn hạt nhân quay lại khí quyển
Triều Tiên mô phỏng thành công đầu đạn hạt nhân quay lại khí quyển

AFP đưa tin ngày 15/3, Nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-Un cho biết nước này đã thử thành công trong phòng thí nghiệm về khả năng quay trở lại khí quyển của đầu đạn hạt nhân, sau khi tuyên bố Bình Nhưỡng sẽ thử đầu đạn hạt nhân và tên lửa đạn đạo trong thời gian tới.

Hãng thông tấn KCNA cho biết ông Kim Jong-Un trước đó đã ra lệnh tiến hành mô phỏng để đánh giá mức độ ổn định nhiệt của đầu đạn lắp ở đầu của tên lửa, được thiết kế và sản xuất bằng các nỗ lực và công nghệ trong nước, cũng như mức độ mòn của nguyên liệu phủ chống nhiệt.

KCNA cũng đưa tin “ông Kim Jong-Un tuyên bố rằng việc thử kích nổ đầu đạn hạt nhân và phóng nhiều loại tên lửa đạn đạo có thể mang đầu đạn hạt nhân sẽ sớm được thực hiện, nhằm tăng cường hơn nữa độ tin cậy của khả năng tấn công hạt nhân.

Đích thân nhà lãnh đạo đã chỉ thị các cơ quan liên quan chuẩn bị cho việc này đến tận chi tiết cuối cùng.”

Nếu được kiểm chứng, khả năng chế tạo một đầu đạn có thể chịu được nhiệt độ cao và chấn động mạnh trong quá trình quay trở lại khí quyển sẽ là một bước tiến quan trọng trong năng lực tấn công hạt nhân của Triều Tiên, đồng thời là mối đe dọa rõ rệt đối với lục địa Mỹ.

Bộ đội tên lửa VN: "Khai thụt học vấn" khi đi học ở nước ngoài!

Bộ đội tên lửa VN: "Khai thụt học vấn" khi đi học ở nước ngoài!
Bộ đội tên lửa VN: "Khai thụt học vấn" khi đi học ở nước ngoài!

Đại tá Lakisev - Trưởng Trung tâm huấn luyện Sitentrai, nói: "Tôi xin nói trước, để làm chủ vũ khí khí tài tên lửa hiện đại này, các bạn phải mất ít nhất 18 tháng".

Khai thụt học vấn

Vừa xa giảng đường đại học, nhập ngũ chưa lâu, tháng 7 năm 1972, khoảng 400 tân binh gốc là sinh viên các Trường Đại học tại Hà Nội đã tham gia cuộc “hành binh” đặc biệt, bằng tàu hỏa liên vận quốc tế xuyên Á-Âu.

Đoàn tàu chạy từ Việt Nam qua ngả Bằng Tường - Vũ Hán - Thiên Tân - Hắc Long Giang - Zabaikan - Omxco - Volgagrat... có mặt tại căn cứ quân sự ngoại vi Thủ đô Baku nước CH Azerbaijan.

Liên Xô khi đó còn là mùa Hè. Họ sang đây để chuyển loại tên lửa phòng không thế hệ mới, do Liên Xô viện trợ.

Số sinh viên này nằm trong nguồn binh lực “để giành” của Việt Nam, được “xuất ra” nhập ngũ đợt này, dự kiến đưa vào tham chiến giữa những tháng năm đối kháng cam go, ác liệt với Không quân Mỹ.

Khi đó Chính quyền Nixon vừa thay chiến thuật “leo thang chiến tranh” thành thủ đoạn đánh ồ ạt thẳng vào Hà Nội, Hải Phòng, gây sức ép Việt Nam... hòng “Đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”.

 Tác giả bài viết - Đại tá Trần Danh Bảng, nguyên học viên tên lửa Việt Nam tham gia chuyển loại tên lửa SAM-3 ở Liên Xô. Ảnh: Trần Danh Bảng.

Tác giả bài viết - Đại tá Trần Danh Bảng, nguyên học viên tên lửa Việt Nam tham gia chuyển loại tên lửa SAM-3 ở Liên Xô. Ảnh: Trần Danh Bảng.

Tại căn cứ tên lửa Sitentrai, thị trấn Zưc, bên bờ Vịnh Baku, ngay khi đặt chân tới, cán bộ chiến sĩ (khung) hai trung đoàn tên lửa là 276 và 277 được phát bộ đồ tập trận màu vàng đất sa mạc, ống quần thắt túm, mũ vải rộng vành để tránh nắng.

Họ còn được trang bị giày “trâu” để leo trèo chắc chắn. Tất cả tư trang xi-vin Á Đông lúc này được cất trong kho, chờ ngày trở về. Họ lạ lẫm với vùng đất mà không gian luôn sực mùi dầu thô, những bản nhạc trên loa mang giai điệu dân ca đạo hồi phát suốt ngày.

Mặt biển Caspien luôn có váng dầu, ánh lên bảy sắc cầu vồng... Chỉ vài ngày sau, các cựu sinh viên đã được nhìn thấy bệ phóng tên lửa S-125 (SAM-3) với hai trái đạn uy nghi trên bệ. Nó còn có tên là Pechora, tên một con sông phía bắc nước Nga.

Họ sẽ học lý thuyết và thực hành khai thác hệ thống tên lửa này trong nhiều tháng. Nghe nói, S-125 tầm bắn gần hơn Dvina S-75 (SAM-2) ở trong nước. Nhưng khi bắn, nó kháng nhiễu khá tốt, bắn tự động thì bám rất dai và uy lực sát thương cao.

Xác suất tiêu diệt 2 quả lên tới trên 0,82. Thật tuyệt! Ai cũng mừng và kỳ vọng, chẳng bao lâu nữa, S-125 sẽ “làm nên chuyện” tại trận chiến chống tập kích đường không của Mỹ vào miền Bắc.

Tất cả lao vào học tập với quyết tâm rất cao. Còn chỉ huy của họ, nhìn thực lực các thành phần trắc thủ, lòng thầm mong rút ngắn thời gian để về nước nghênh chiến. Cố gắng học 8 tháng, thậm chí nhanh hơn nữa để về chiến đấu.

Tại Trung tâm Sitentrai có khoảng 10 phân hệ tương ứng với các xe của phân đội tên lửa được chia ra. Tại các phòng học lý thuyết, như tính năng kỹ chiến thuật, sơ đồ chức năng, có các thầy giáo là các sĩ quan Liên Xô từ trung úy đến đại tá giảng bài.

Trên tường có hàng chục tranh, sơ đồ về hệ thống radar, tên lửa dòng Pechora. Nhiều phòng học có mô hình cắt - bổ khí tài, như phòng học lớp đạn, phòng học lớp bệ phóng.

Ở các môn học quan trọng, như vị trí sĩ quan điều khiển, trắc thủ “tay quay”, yêu cầu phải hiểu rõ nguyên lý điều khiển liên tục và thao tác chuẩn xác, có tới 3 giáo viên thay nhau giảng dạy.

Những lớp này có bảng ma-két 3D, mô tả vùng trời và các hình thái quỹ đạo điều khiển đạn.

Ngay từ tuần học, tháng học đầu tiên, các sĩ quan Nga đã hết lòng giảng giải, sử dụng sơ đồ khối và cả công thức toán học để học viên hiểu từng mạch điện.

Nhưng các thày cũng ngạc nhiên về kết quả nắm chắc bài giảng của học viên Việt Nam, cho dù phải qua phiên dịch.

Họ bất ngờ vì người học nắm rất chắc nguyên tắc khuyếch đại, nguyên lý dao động của mạch điện và mối liên hệ giữa các linh kiện trong từng trường hợp đổi dòng, giảm điện thế...

Sau này các thầy mới vỡ lẽ, họ đang giảng cho đối tượng, không phải là học sinh phổ thông “Tốt nghiệp lớp 10” như hầu hết danh sách đã ghi, mà là đa số sinh viên các trường đại học kỹ thuật ở Hà Nội.

Phần lớn kiến thức cơ bản về vật lý đại cương, toán cao cấp, họ đã “nghiền” xong. Khoảng 20% là sinh viên khoa điện, vô tuyến điện ở ĐH Bách Khoa Hà Nội. Biết vậy các giáo viên người Nga lại càng gần gũi trao đổi, gợi ý và có phần hưng phấn trong hướng dẫn.

Điều này làm cho anh em liên hệ hiểu sâu thêm từng vấn đề.

Sở dĩ có chuyện “khai thụt” học vấn, vì chỉ huy trung đoàn muốn “ăn chắc”, muốn các giáo viên giảng giải sao cho dễ hiểu nhất, tương ứng với cách dạy cho đối tượng như là học sinh phổ thông vừa tốt nghiệp.

 Bệ phóng tên lửa Pechora loại 2 cần được Liên Xô viện trợ cho Việt Nam năm 1972.

Bệ phóng tên lửa Pechora loại 2 cần được Liên Xô viện trợ cho Việt Nam năm 1972.

Một “đạo quân” phiên dịch

Lại phải nói về phiên dịch cho khóa huấn luyện này. Quân đội Việt Nam đã huy động một đội ngũ đông đảo phiên dịch viên, tổ chức hẳn thành một đại đội phục vụ các lớp chuyên ngành.

Như anh Hoàng Tích Lạc (khi đó là kỹ sư đang công tác tại Viện Y học Hàng không, giỏi tiếng Nga, cũng được điều động gấp về trung đoàn, chủ yếu làm nhiệm vụ phiên dịch hệ điều khiển...

Như Thiếu úy Trần Quốc Dung, quê Quảng Ngãi, đã tốt nghiệp xuất sắc khoa Vật lý lý thuyết, trường Đại học Lomonoxov về nước, mới vừa nhập ngũ.

Anh được Học viện Kỹ thuật quân sự lấy về, lần này lại phải đi cùng tên lửa.Trần Quốc Dung là một trong những phiên dịch trực tiếp phim trên màn ảnh rất tốt.

Trong số này có các cán bộ kỹ thuật có trình độ tiếng Nga tốt, ở các trung đoàn tên lửa S-75. Các anh đóng hai vai, một vai phiên dịch, một vai được giao là phải tự học các hệ theo phân công, để về nước tham gia công tác bảo đảm kỹ thuật cho các đơn vị sau này.

Những phiên dịch tài ba như thế là các tiểu giáo viên, giúp các trắc thủ nhanh hiểu bài.

Khóa học này có cả các sĩ quan trẻ vừa tốt nghiệp Học Viện kỹ thuật quân sự, như Thiếu úy Đỗ Hà Bắc, Nguyễn Hùng Vĩ ở phân đội 164... học tại các lớp “hệ mới” như hệ chống nhiễu, hệ tọa độ, lớp kiểm tra kíp, lắp ráp đạn (thuốc phóng khô)...

Ngày hai buổi lên lớp, tối về ôn bài, chẳng bao lâu các học viên đã học xong phần lý thuyết cơ sở và sơ đồ khối của hệ thống tên lửa mới. Phần “sở trường” đã xong.

Tới phần hướng dẫn thao tác và thực hành, lúc này mọi nội dung hoàn toàn mới lạ. Các sĩ quan Liên Xô thực hiện phương pháp kết hợp, vừa giảng bằng sơ đồ, hình vẽ, vừa thực hành thao tác thật trên các khối máy, tủ máy.

Họ giành cho học viên nhiều thời gian tiếp cận với khí tài thật.

Các thày cho rằng bộ khí tài S-125 có khả năng chiến đấu ở nhiều chiến trường, với nhiều địa hình khác nhau, cho dù khí hậu rất khắc nghiệt.

Bằng cớ là tại vùng Baikan, Viễn Đông (CH Nga) nơi mùa đông băng giá, nhiệt độ xuống dưới 40 độ, nó vẫn bắn tốt. Sang sa mạc Trung Đông, nhiệt độ lên đến 45 độ ngoài trời, như thế độ chênh lệch tới gần 100 độ, mà nó vẫn phát huy tính năng.

“Các bạn hãy tin vào khí tài của chúng tôi” các sĩ quan Nga bảo vậy.

Trung úy Nguyễn Văn Tẩm, một phiên dịch tiết lộ, trong số giáo viên cấp tá của Liên Xô giảng cho lớp 12 tiểu đoàn trưởng, có các thày vốn là sĩ quan cấp trung đoàn, vừa chiến đấu ở kênh đào Suye (Ai Cập), năm 1970, đánh trả Không quân Israel, mới về nước.

Chính các sĩ quan này đã lập công, lần đầu khai hỏa dòng tên lửa Pechora, bắn máy bay F-4 của Mỹ ở chiến trường Trung Đông.

 Trung đoàn tên lửa 276 nay đã được trang bị vũ khí mới, hiện đại có khả năng triển khai, thu hồi nhanh, kháng nhiễu tốt.

Trung đoàn tên lửa 276 nay đã được trang bị vũ khí mới, hiện đại có khả năng triển khai, thu hồi nhanh, kháng nhiễu tốt.

Chạy đua với thời gian

Trong thực hành, bằng cách tổ chức các nhóm “cuốn chiếu xoay vòng”, nên tần suất được tiếp xúc với khí tài tăng lên.

Cả 5 bộ khí tài trên bãi tập hầu như liên tục được nối điện, có nhiều khi huấn luyện ban đêm. Cả một vùng sườn núi bên Vịnh biển rền vang tiếng máy phát điện, tiếng động cơ anten quay. Đêm, ánh điện sáng như một công trường xây dựng lớn.

Trung đoàn phó 276 là Thiếu tá Trần Đình Ái nói thẳng với các chiến sĩ sinh viên: Ta đang ở nước bạn, họ làm ra khí tài, có đội ngũ thợ giỏi, có các thày chuyên môn vững, các đồng chí cứ mạnh dạn làm các động tác.

Điều chỉnh nhiều mới lấy tham số chuẩn. Sai thì có người sửa. Hỏng khí tài, “cháy linh kiện” có bạn thay thế ngay. Mạnh dạn thao tác, va vấp mới tiến bộ nhanh! Đúng như vậy, anh em rất say mê “vặn, xoáy” đo, thử trên đồng hồ, trên các oxilo hiện sóng. Tiến bộ nhanh.

Nguyên khẩu đội trưởng bệ phóng Trần Anh Vũ (sau này là cán bộ của ngành Điện lực), tiểu đoàn 164 nhớ lại: Chúng tôi vừa dùng trí, học thông mạch điện sơ đồ “Sutt” của bệ phóng S-125, vừa phải dùng sức thực hành kích bệ, cân bằng, định hướng.

Nhờ cố gắng, chúng tôi đã giành giải nhất, thi triển khai bệ phóng với phân đội bạn. Sĩ quan Anaton phụ trách lớp tôi đánh giá cao kết quả này.

Nguyên trắc thủ Trần Mạnh Linh (sau này là Trưởng ban thời sự Đài Truyền hình Phú Thọ) kể: Chúng tôi nắm chắc lý thuyết, sơ đồ khối hệ điều khiển, nên hiểu từng động tác “vê” tay quay, điều khiển đạn.

Hình dung ra mỗi động tác của mình, sẽ tác động tới các mặt phẳng của cánh sóng phương vị ngoài không gian ra sao, nên tiến bộ rất nhanh. Thượng úy Vasily rất vui khi chúng tôi thành thục động tác.

Lại phải nói, số sĩ quan đi cùng khóa huấn luyện, chuyển loại lần này, có nhiều người từng thực chiến ở trận địa hỏa lực tên lửa trong chiến tranh. Từ Trung đoàn trưởng Phạm Sơn, là tiểu đoàn trưởng thuộc trung đoàn 238 tham gia tác chiến ở giới tuyến Vĩnh Linh.

Tiểu đoàn ông bắn rơi mấy máy bay Mỹ ngay sát giới tuyến. Như nguyên sĩ quan điều khiển, thượng sĩ Võ Trí Trư, người đã bấm nút bắn hạ C-130 Mỹ ở tuyến nam Khu 4.

Như nguyên tiểu đoàn phó Chu Lưu (Con trai nhà văn Chu Văn - quê Nam Định), dạn dày trận mạc, đánh máy bay Mỹ... Đây là các “giáo viên chiến đấu thứ 2”, bên cạnh các sĩ quan Liên-Xô, hàng ngày huấn luyện hiệp đồng kíp chiến đấu.

Vì thế chỉ mới học thực hành tác chiến đến tháng thứ hai, các kíp chiến đấu của 12 tiểu đoàn đã đạt sai số bắn thấp nhất.

Nhớ ngày mới về đây, Đại tá Lakisev trưởng Trung tâm Sitentrai, dáng cao to giọng sang sảng. Đại tá nói:

"Tôi xin nói trước, để làm chủ vũ khí khí tài hiện đại này, các bạn phải mất ít nhất 18 tháng. Nhưng các bạn chỉ yêu cầu có 8 tháng thì thật tình, tôi rất ái ngại. Vậy để hoàn thành nhiệm vụ, các đồng chí phải cố gắng thật cật lực!"

Lúc này trước kết quả học tập, Đại tá Lakisev mừng lắm. Ông bảo, các bạn Việt Nam rất sáng tạo, chăm chỉ. Tôi tin các bạn làm chủ nhanh vũ khí. Chỉ còn chờ kết quả bắn.

Thời gian 1 tuần ở bãi bắn Ashuluk cách Trung tâm 3 ngày đường, diễn ra khá nhanh. Đây thực sự là một đợt thực hành tổng hợp.

Anh em vừa nhận khí tài, vừa thao tác, điều chỉnh vừa thực hành bắn đạn thật. Cả 12 tiểu đoàn đều bắn trúng mục tiêu bay thấp rất lắt léo.

Tin vui loan nhanh về Bộ quốc phòng Liên Xô. Sau khi nghiệm thu khí tài và kỹ thuật, phía Liên-Xô đã đồng ý cho ký kết tiếp nhận trang bị.

Một cảm giác thật bồi hồi sung sướng, khi thiếu úy Nguyễn Ngọc Quý, một cán bộ đi học đợt này, được sĩ quan điều khiển của bạn mời ký (lưu bút) vào mặt một tủ máy.

Các giáo viên bắt tay, vỗ vai Quý nói rằng, chữ ký trên khí tài này sẽ theo Quý và các sĩ quan Việt Nam về trận địa tên lửa phòng không S-125 ở miền Bắc Việt Nam trong thời gian sớm nhất!

Thì ra, nhà máy chế tạo S-125 cũng bàn giao, nghiệm thu khí tài cho Việt Nam tại đây. Tiểu đoàn nào, nhận khí tài nấy, điều này khiến họ càng phấn khích, mong ngày trở về.

Kết

Sau 1 tháng tiếp tục huấn luyện triển khai, thu hồi khí tài ở ngoại vi thành phố Sumgait, tại bãi biển Caspien. Hai trung đoàn về nước, đầu tháng 12 năm 1972.

Thật tiếc, tên lửa SAM-3 (S-125) đã không còn cơ hội tham chiến vì 12 ngày đêm đánh B- 52 kết thúc. Người, khí tài đã về trận địa mà đạn vẫn rải rác trên các toa tàu tuyến ga Zabaikan - Bằng Tường.

Rồi chiến tranh kết thúc, phải tới hơn 20 năm sau, dòng khí tài Pechura 2 đạn trên 1 bệ phóng mới kết thúc sứ mệnh canh giữ vùng trời Việt Nam, nhường chỗ cho các khí tài tiên tiến, uy lực hơn.

Lứa chiến sĩ tên lửa, là sinh viên ngày ấy, nay đã trên 60 tuổi. Sau này, nhiều anh ra quân năm 1975, trở về mặt trận mới.

Người thành kỹ sư, nhà quản lý, tướng lĩnh, người giữ giữ cương vị cao trong các ngành, như nguyên trắc thủ Nguyễn Đức Hoàn, sau là Giám đốc nhà máy xi măng Hoàng Thạch nhiều năm liền. Như Vi Văn Liên, sau là Phó Tư lệnh quân chủng PK-KQ.

Như Dương Xuân Nam (Dương Kỳ Anh) Tổng biên tập Báo Tiền Phong. Như Tạ Tấn, UVTU, Giám đốc Học viện Quốc gia HCM...

Bài học rút ra qua khóa huấn luyện ở Baku là, với việc chuyển giao khí tài, huấn luyện khai thác sử dụng, chuyển loại vũ khí, nếu chọn đầu vào là các chiến sĩ có học vấn tốt, thì không có gì tốt bằng phương pháp “cầm tay, chỉ việc” trực tiếp huấn luyện trên máy.

Sau này nâng cao nhận thức bằng học tiếp lý thuyết cơ bản. Mới đấy mà đã 44 năm.

Bộ đội tên lửa VN: "Khai thụt học vấn" khi đi học ở nước ngoài!
Bộ đội tên lửa VN: "Khai thụt học vấn" khi đi học ở nước ngoài!

Đại tá Lakisev - Trưởng Trung tâm huấn luyện Sitentrai, nói: "Tôi xin nói trước, để làm chủ vũ khí khí tài tên lửa hiện đại này, các bạn phải mất ít nhất 18 tháng".

Khai thụt học vấn

Vừa xa giảng đường đại học, nhập ngũ chưa lâu, tháng 7 năm 1972, khoảng 400 tân binh gốc là sinh viên các Trường Đại học tại Hà Nội đã tham gia cuộc “hành binh” đặc biệt, bằng tàu hỏa liên vận quốc tế xuyên Á-Âu.

Đoàn tàu chạy từ Việt Nam qua ngả Bằng Tường - Vũ Hán - Thiên Tân - Hắc Long Giang - Zabaikan - Omxco - Volgagrat... có mặt tại căn cứ quân sự ngoại vi Thủ đô Baku nước CH Azerbaijan.

Liên Xô khi đó còn là mùa Hè. Họ sang đây để chuyển loại tên lửa phòng không thế hệ mới, do Liên Xô viện trợ.

Số sinh viên này nằm trong nguồn binh lực “để giành” của Việt Nam, được “xuất ra” nhập ngũ đợt này, dự kiến đưa vào tham chiến giữa những tháng năm đối kháng cam go, ác liệt với Không quân Mỹ.

Khi đó Chính quyền Nixon vừa thay chiến thuật “leo thang chiến tranh” thành thủ đoạn đánh ồ ạt thẳng vào Hà Nội, Hải Phòng, gây sức ép Việt Nam... hòng “Đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”.

 Tác giả bài viết - Đại tá Trần Danh Bảng, nguyên học viên tên lửa Việt Nam tham gia chuyển loại tên lửa SAM-3 ở Liên Xô. Ảnh: Trần Danh Bảng.

Tác giả bài viết - Đại tá Trần Danh Bảng, nguyên học viên tên lửa Việt Nam tham gia chuyển loại tên lửa SAM-3 ở Liên Xô. Ảnh: Trần Danh Bảng.

Tại căn cứ tên lửa Sitentrai, thị trấn Zưc, bên bờ Vịnh Baku, ngay khi đặt chân tới, cán bộ chiến sĩ (khung) hai trung đoàn tên lửa là 276 và 277 được phát bộ đồ tập trận màu vàng đất sa mạc, ống quần thắt túm, mũ vải rộng vành để tránh nắng.

Họ còn được trang bị giày “trâu” để leo trèo chắc chắn. Tất cả tư trang xi-vin Á Đông lúc này được cất trong kho, chờ ngày trở về. Họ lạ lẫm với vùng đất mà không gian luôn sực mùi dầu thô, những bản nhạc trên loa mang giai điệu dân ca đạo hồi phát suốt ngày.

Mặt biển Caspien luôn có váng dầu, ánh lên bảy sắc cầu vồng... Chỉ vài ngày sau, các cựu sinh viên đã được nhìn thấy bệ phóng tên lửa S-125 (SAM-3) với hai trái đạn uy nghi trên bệ. Nó còn có tên là Pechora, tên một con sông phía bắc nước Nga.

Họ sẽ học lý thuyết và thực hành khai thác hệ thống tên lửa này trong nhiều tháng. Nghe nói, S-125 tầm bắn gần hơn Dvina S-75 (SAM-2) ở trong nước. Nhưng khi bắn, nó kháng nhiễu khá tốt, bắn tự động thì bám rất dai và uy lực sát thương cao.

Xác suất tiêu diệt 2 quả lên tới trên 0,82. Thật tuyệt! Ai cũng mừng và kỳ vọng, chẳng bao lâu nữa, S-125 sẽ “làm nên chuyện” tại trận chiến chống tập kích đường không của Mỹ vào miền Bắc.

Tất cả lao vào học tập với quyết tâm rất cao. Còn chỉ huy của họ, nhìn thực lực các thành phần trắc thủ, lòng thầm mong rút ngắn thời gian để về nước nghênh chiến. Cố gắng học 8 tháng, thậm chí nhanh hơn nữa để về chiến đấu.

Tại Trung tâm Sitentrai có khoảng 10 phân hệ tương ứng với các xe của phân đội tên lửa được chia ra. Tại các phòng học lý thuyết, như tính năng kỹ chiến thuật, sơ đồ chức năng, có các thầy giáo là các sĩ quan Liên Xô từ trung úy đến đại tá giảng bài.

Trên tường có hàng chục tranh, sơ đồ về hệ thống radar, tên lửa dòng Pechora. Nhiều phòng học có mô hình cắt - bổ khí tài, như phòng học lớp đạn, phòng học lớp bệ phóng.

Ở các môn học quan trọng, như vị trí sĩ quan điều khiển, trắc thủ “tay quay”, yêu cầu phải hiểu rõ nguyên lý điều khiển liên tục và thao tác chuẩn xác, có tới 3 giáo viên thay nhau giảng dạy.

Những lớp này có bảng ma-két 3D, mô tả vùng trời và các hình thái quỹ đạo điều khiển đạn.

Ngay từ tuần học, tháng học đầu tiên, các sĩ quan Nga đã hết lòng giảng giải, sử dụng sơ đồ khối và cả công thức toán học để học viên hiểu từng mạch điện.

Nhưng các thày cũng ngạc nhiên về kết quả nắm chắc bài giảng của học viên Việt Nam, cho dù phải qua phiên dịch.

Họ bất ngờ vì người học nắm rất chắc nguyên tắc khuyếch đại, nguyên lý dao động của mạch điện và mối liên hệ giữa các linh kiện trong từng trường hợp đổi dòng, giảm điện thế...

Sau này các thầy mới vỡ lẽ, họ đang giảng cho đối tượng, không phải là học sinh phổ thông “Tốt nghiệp lớp 10” như hầu hết danh sách đã ghi, mà là đa số sinh viên các trường đại học kỹ thuật ở Hà Nội.

Phần lớn kiến thức cơ bản về vật lý đại cương, toán cao cấp, họ đã “nghiền” xong. Khoảng 20% là sinh viên khoa điện, vô tuyến điện ở ĐH Bách Khoa Hà Nội. Biết vậy các giáo viên người Nga lại càng gần gũi trao đổi, gợi ý và có phần hưng phấn trong hướng dẫn.

Điều này làm cho anh em liên hệ hiểu sâu thêm từng vấn đề.

Sở dĩ có chuyện “khai thụt” học vấn, vì chỉ huy trung đoàn muốn “ăn chắc”, muốn các giáo viên giảng giải sao cho dễ hiểu nhất, tương ứng với cách dạy cho đối tượng như là học sinh phổ thông vừa tốt nghiệp.

 Bệ phóng tên lửa Pechora loại 2 cần được Liên Xô viện trợ cho Việt Nam năm 1972.

Bệ phóng tên lửa Pechora loại 2 cần được Liên Xô viện trợ cho Việt Nam năm 1972.

Một “đạo quân” phiên dịch

Lại phải nói về phiên dịch cho khóa huấn luyện này. Quân đội Việt Nam đã huy động một đội ngũ đông đảo phiên dịch viên, tổ chức hẳn thành một đại đội phục vụ các lớp chuyên ngành.

Như anh Hoàng Tích Lạc (khi đó là kỹ sư đang công tác tại Viện Y học Hàng không, giỏi tiếng Nga, cũng được điều động gấp về trung đoàn, chủ yếu làm nhiệm vụ phiên dịch hệ điều khiển...

Như Thiếu úy Trần Quốc Dung, quê Quảng Ngãi, đã tốt nghiệp xuất sắc khoa Vật lý lý thuyết, trường Đại học Lomonoxov về nước, mới vừa nhập ngũ.

Anh được Học viện Kỹ thuật quân sự lấy về, lần này lại phải đi cùng tên lửa.Trần Quốc Dung là một trong những phiên dịch trực tiếp phim trên màn ảnh rất tốt.

Trong số này có các cán bộ kỹ thuật có trình độ tiếng Nga tốt, ở các trung đoàn tên lửa S-75. Các anh đóng hai vai, một vai phiên dịch, một vai được giao là phải tự học các hệ theo phân công, để về nước tham gia công tác bảo đảm kỹ thuật cho các đơn vị sau này.

Những phiên dịch tài ba như thế là các tiểu giáo viên, giúp các trắc thủ nhanh hiểu bài.

Khóa học này có cả các sĩ quan trẻ vừa tốt nghiệp Học Viện kỹ thuật quân sự, như Thiếu úy Đỗ Hà Bắc, Nguyễn Hùng Vĩ ở phân đội 164... học tại các lớp “hệ mới” như hệ chống nhiễu, hệ tọa độ, lớp kiểm tra kíp, lắp ráp đạn (thuốc phóng khô)...

Ngày hai buổi lên lớp, tối về ôn bài, chẳng bao lâu các học viên đã học xong phần lý thuyết cơ sở và sơ đồ khối của hệ thống tên lửa mới. Phần “sở trường” đã xong.

Tới phần hướng dẫn thao tác và thực hành, lúc này mọi nội dung hoàn toàn mới lạ. Các sĩ quan Liên Xô thực hiện phương pháp kết hợp, vừa giảng bằng sơ đồ, hình vẽ, vừa thực hành thao tác thật trên các khối máy, tủ máy.

Họ giành cho học viên nhiều thời gian tiếp cận với khí tài thật.

Các thày cho rằng bộ khí tài S-125 có khả năng chiến đấu ở nhiều chiến trường, với nhiều địa hình khác nhau, cho dù khí hậu rất khắc nghiệt.

Bằng cớ là tại vùng Baikan, Viễn Đông (CH Nga) nơi mùa đông băng giá, nhiệt độ xuống dưới 40 độ, nó vẫn bắn tốt. Sang sa mạc Trung Đông, nhiệt độ lên đến 45 độ ngoài trời, như thế độ chênh lệch tới gần 100 độ, mà nó vẫn phát huy tính năng.

“Các bạn hãy tin vào khí tài của chúng tôi” các sĩ quan Nga bảo vậy.

Trung úy Nguyễn Văn Tẩm, một phiên dịch tiết lộ, trong số giáo viên cấp tá của Liên Xô giảng cho lớp 12 tiểu đoàn trưởng, có các thày vốn là sĩ quan cấp trung đoàn, vừa chiến đấu ở kênh đào Suye (Ai Cập), năm 1970, đánh trả Không quân Israel, mới về nước.

Chính các sĩ quan này đã lập công, lần đầu khai hỏa dòng tên lửa Pechora, bắn máy bay F-4 của Mỹ ở chiến trường Trung Đông.

 Trung đoàn tên lửa 276 nay đã được trang bị vũ khí mới, hiện đại có khả năng triển khai, thu hồi nhanh, kháng nhiễu tốt.

Trung đoàn tên lửa 276 nay đã được trang bị vũ khí mới, hiện đại có khả năng triển khai, thu hồi nhanh, kháng nhiễu tốt.

Chạy đua với thời gian

Trong thực hành, bằng cách tổ chức các nhóm “cuốn chiếu xoay vòng”, nên tần suất được tiếp xúc với khí tài tăng lên.

Cả 5 bộ khí tài trên bãi tập hầu như liên tục được nối điện, có nhiều khi huấn luyện ban đêm. Cả một vùng sườn núi bên Vịnh biển rền vang tiếng máy phát điện, tiếng động cơ anten quay. Đêm, ánh điện sáng như một công trường xây dựng lớn.

Trung đoàn phó 276 là Thiếu tá Trần Đình Ái nói thẳng với các chiến sĩ sinh viên: Ta đang ở nước bạn, họ làm ra khí tài, có đội ngũ thợ giỏi, có các thày chuyên môn vững, các đồng chí cứ mạnh dạn làm các động tác.

Điều chỉnh nhiều mới lấy tham số chuẩn. Sai thì có người sửa. Hỏng khí tài, “cháy linh kiện” có bạn thay thế ngay. Mạnh dạn thao tác, va vấp mới tiến bộ nhanh! Đúng như vậy, anh em rất say mê “vặn, xoáy” đo, thử trên đồng hồ, trên các oxilo hiện sóng. Tiến bộ nhanh.

Nguyên khẩu đội trưởng bệ phóng Trần Anh Vũ (sau này là cán bộ của ngành Điện lực), tiểu đoàn 164 nhớ lại: Chúng tôi vừa dùng trí, học thông mạch điện sơ đồ “Sutt” của bệ phóng S-125, vừa phải dùng sức thực hành kích bệ, cân bằng, định hướng.

Nhờ cố gắng, chúng tôi đã giành giải nhất, thi triển khai bệ phóng với phân đội bạn. Sĩ quan Anaton phụ trách lớp tôi đánh giá cao kết quả này.

Nguyên trắc thủ Trần Mạnh Linh (sau này là Trưởng ban thời sự Đài Truyền hình Phú Thọ) kể: Chúng tôi nắm chắc lý thuyết, sơ đồ khối hệ điều khiển, nên hiểu từng động tác “vê” tay quay, điều khiển đạn.

Hình dung ra mỗi động tác của mình, sẽ tác động tới các mặt phẳng của cánh sóng phương vị ngoài không gian ra sao, nên tiến bộ rất nhanh. Thượng úy Vasily rất vui khi chúng tôi thành thục động tác.

Lại phải nói, số sĩ quan đi cùng khóa huấn luyện, chuyển loại lần này, có nhiều người từng thực chiến ở trận địa hỏa lực tên lửa trong chiến tranh. Từ Trung đoàn trưởng Phạm Sơn, là tiểu đoàn trưởng thuộc trung đoàn 238 tham gia tác chiến ở giới tuyến Vĩnh Linh.

Tiểu đoàn ông bắn rơi mấy máy bay Mỹ ngay sát giới tuyến. Như nguyên sĩ quan điều khiển, thượng sĩ Võ Trí Trư, người đã bấm nút bắn hạ C-130 Mỹ ở tuyến nam Khu 4.

Như nguyên tiểu đoàn phó Chu Lưu (Con trai nhà văn Chu Văn - quê Nam Định), dạn dày trận mạc, đánh máy bay Mỹ... Đây là các “giáo viên chiến đấu thứ 2”, bên cạnh các sĩ quan Liên-Xô, hàng ngày huấn luyện hiệp đồng kíp chiến đấu.

Vì thế chỉ mới học thực hành tác chiến đến tháng thứ hai, các kíp chiến đấu của 12 tiểu đoàn đã đạt sai số bắn thấp nhất.

Nhớ ngày mới về đây, Đại tá Lakisev trưởng Trung tâm Sitentrai, dáng cao to giọng sang sảng. Đại tá nói:

"Tôi xin nói trước, để làm chủ vũ khí khí tài hiện đại này, các bạn phải mất ít nhất 18 tháng. Nhưng các bạn chỉ yêu cầu có 8 tháng thì thật tình, tôi rất ái ngại. Vậy để hoàn thành nhiệm vụ, các đồng chí phải cố gắng thật cật lực!"

Lúc này trước kết quả học tập, Đại tá Lakisev mừng lắm. Ông bảo, các bạn Việt Nam rất sáng tạo, chăm chỉ. Tôi tin các bạn làm chủ nhanh vũ khí. Chỉ còn chờ kết quả bắn.

Thời gian 1 tuần ở bãi bắn Ashuluk cách Trung tâm 3 ngày đường, diễn ra khá nhanh. Đây thực sự là một đợt thực hành tổng hợp.

Anh em vừa nhận khí tài, vừa thao tác, điều chỉnh vừa thực hành bắn đạn thật. Cả 12 tiểu đoàn đều bắn trúng mục tiêu bay thấp rất lắt léo.

Tin vui loan nhanh về Bộ quốc phòng Liên Xô. Sau khi nghiệm thu khí tài và kỹ thuật, phía Liên-Xô đã đồng ý cho ký kết tiếp nhận trang bị.

Một cảm giác thật bồi hồi sung sướng, khi thiếu úy Nguyễn Ngọc Quý, một cán bộ đi học đợt này, được sĩ quan điều khiển của bạn mời ký (lưu bút) vào mặt một tủ máy.

Các giáo viên bắt tay, vỗ vai Quý nói rằng, chữ ký trên khí tài này sẽ theo Quý và các sĩ quan Việt Nam về trận địa tên lửa phòng không S-125 ở miền Bắc Việt Nam trong thời gian sớm nhất!

Thì ra, nhà máy chế tạo S-125 cũng bàn giao, nghiệm thu khí tài cho Việt Nam tại đây. Tiểu đoàn nào, nhận khí tài nấy, điều này khiến họ càng phấn khích, mong ngày trở về.

Kết

Sau 1 tháng tiếp tục huấn luyện triển khai, thu hồi khí tài ở ngoại vi thành phố Sumgait, tại bãi biển Caspien. Hai trung đoàn về nước, đầu tháng 12 năm 1972.

Thật tiếc, tên lửa SAM-3 (S-125) đã không còn cơ hội tham chiến vì 12 ngày đêm đánh B- 52 kết thúc. Người, khí tài đã về trận địa mà đạn vẫn rải rác trên các toa tàu tuyến ga Zabaikan - Bằng Tường.

Rồi chiến tranh kết thúc, phải tới hơn 20 năm sau, dòng khí tài Pechura 2 đạn trên 1 bệ phóng mới kết thúc sứ mệnh canh giữ vùng trời Việt Nam, nhường chỗ cho các khí tài tiên tiến, uy lực hơn.

Lứa chiến sĩ tên lửa, là sinh viên ngày ấy, nay đã trên 60 tuổi. Sau này, nhiều anh ra quân năm 1975, trở về mặt trận mới.

Người thành kỹ sư, nhà quản lý, tướng lĩnh, người giữ giữ cương vị cao trong các ngành, như nguyên trắc thủ Nguyễn Đức Hoàn, sau là Giám đốc nhà máy xi măng Hoàng Thạch nhiều năm liền. Như Vi Văn Liên, sau là Phó Tư lệnh quân chủng PK-KQ.

Như Dương Xuân Nam (Dương Kỳ Anh) Tổng biên tập Báo Tiền Phong. Như Tạ Tấn, UVTU, Giám đốc Học viện Quốc gia HCM...

Bài học rút ra qua khóa huấn luyện ở Baku là, với việc chuyển giao khí tài, huấn luyện khai thác sử dụng, chuyển loại vũ khí, nếu chọn đầu vào là các chiến sĩ có học vấn tốt, thì không có gì tốt bằng phương pháp “cầm tay, chỉ việc” trực tiếp huấn luyện trên máy.

Sau này nâng cao nhận thức bằng học tiếp lý thuyết cơ bản. Mới đấy mà đã 44 năm.

Đại tá xe tăng Việt Nam: Chạy đêm chẳng cần bật đèn

Đại tá xe tăng Việt Nam: Chạy đêm chẳng cần bật đèn
Đại tá xe tăng Việt Nam: Chạy đêm chẳng cần bật đèn

Để xe tăng - thiết giáp làm được điều đó, lái xe phải được trang bị một thiết bị đặc biệt. Đó là khí tài quan sát ban đêm - hay ngắn gọn hơn là “kính lái đêm”.

Từ yêu cầu giữ bí mật khi hành quân...

Trong hầu hết hoạt động chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu thì việc giữ bí mật đều hết sức quan trọng.

Có giữ được bí mật mới bảo vệ được lực lượng của mình trước hỏa lực đối phương, mới giấu được ý định của mình để tạo ra những bất ngờ, đột xuất ngoài dự liệu của kẻ địch...

ĐẠI TÁ NGUYỄN KHẮC NGUYỆT
Nguyên Trưởng ban KH-CN-MT Trường Sĩ quan Tăng Thiết giáp, nguyên chiến sĩ lái xe tăng số 380 thuộc Đại đội 4, Lữ đoàn 203, cùng đơn vị với các xe tăng 390 và 843 húc đổ cổng Dinh Độc Lập trưa 30-04-1975. Tác phẩm: Bão thép (4 tập), Bút ký lính tăng: Hành trình đến Dinh Độc Lập, 1 chọi 10 - Trận đấu tăng bị tráng...

Vì vậy, khi hoạt động ban đêm có một yêu cầu đặt ra đối với các phương tiện chiến đấu nói chung và xe tăng, thiết giáp nói riêng là không được để lộ ánh sáng - đó là thứ dễ bị đối phương phát hiện nhất.

Đối với các xe tăng thế hệ đầu tiên thì yêu cầu này thường được đáp ứng bằng cách sử dụng “đèn gầm” - một thứ đèn bị che chắn chỉ chiếu sáng rất gần và với một diện tích rất hẹp ngay trước mũi xe.

Tuy nhiên, điều đó chưa làm hài lòng các nhà chỉ huy vì ít nhiều vẫn còn tạo ra ánh sáng.

Cùng với sự tiến bộ khoa học công nghệ, trên các xe tăng chế tạo từ thập niên 60 thế kỷ XX đã bắt đầu được trang bị kính lái đêm cho lái xe.

Nhờ có kính này, các lái xe sẽ điều khiển được xe mà không cần bật đèn pha (thực ra vẫn phải bật đèn pha nhưng là đèn pha hồng ngoại, kính của đèn pha này có màu đen nên ngăn ánh sáng nhìn thấy lại và chỉ cho ánh sáng hông ngoại đi qua).

Bình thường, kính lái đêm được bảo quản riêng trong một hộp kín ngay gần vị trí lái xe. Chỉ khi sử dụng mới đem ra lắp vào vị trí của kính tiềm vọng chính của lái xe.

Trường hợp lái hành quân hoặc công tác được mở cửa, thò đầu thì lắp vào một giá kính riêng rồi gá vào cửa lái xe. Kính lái đêm thế hệ này là loại khí tài hồng ngoại chủ động.

 Một chiếc xe tăng của Ấn Độ hoạt động trong điều kiện ánh sáng hạn chế.

Một chiếc xe tăng của Ấn Độ hoạt động trong điều kiện ánh sáng hạn chế.

Nghĩa là, ánh sáng hồng ngoại từ đèn pha hồng ngoại sẽ được chiếu vào các vật thể xung quanh rồi phản xạ trở lại kính quan sát, sau đó được biến đổi thành ánh sáng nhìn thấy trong thị kính của lái xe giúp có thể quan sát được đường sá và cảnh vật xung quanh.

Bộ phận trung tâm của thiết bị này là “bộ biến đổi điện - quang” có tác dụng biến đổi ánh sáng hồng ngoại thành ánh sáng nhìn thấy.

Đó là một ống hình trụ, một đầu là ka-tốt được làm bằng vật liệu nhạy cảm với ánh sáng hồng ngoại, khi bị tia hồng ngoại chiếu vào thì sẽ làm bắn ra các electron. Đầu kia là a-nôt là một màn huỳnh quang và sẽ phát sáng khi bị các electron bắn vào.

Giữa ka-tốt và a-nốt là một điện áp cao khoảng 18- 20kV và bị ngăn bởi một màn chắn có một lỗ nhỏ ở tâm với mục đích hội tụ dòng electron.

Khi ánh sáng hồng ngoại phản xạ từ các vật thể chiếu vào ka-tốt sẽ làm các electron ở đây bị bứt ra, dưới tác dụng của điện trường mạnh các electron này sẽ lao về phía a-nôt với một vận tốc rất lớn.

Sự va đập này làm màn huỳnh quang phát sáng phát ra ảnh của vật thể đó bằng ánh sáng nhìn thấy.

Tất nhiên, so với hình ảnh quan sát trong điều kiện chiếu sáng bình thường thì không rõ nét và màu sắc cũng không rõ bằng song cũng đủ cho lái xe quan sát được địa hình và đường sá.

 Một chiếc xe tăng T-72 qua kính nhìn đêm.

Một chiếc xe tăng T-72 qua kính nhìn đêm.

... đến trang bị ngày càng hiện đại

Cùng với thời gian, người ta tiếp tục nghiên cứu nâng cao chất lượng cho kính lái đêm của lái xe tăng - thiết giáp theo hướng hiện đại hơn, quan sát rõ nét hơn... như áp dụng công nghệ “khuyếch đại ánh sáng mờ” và mới nhất là “công nghệ ảnh nhiệt”.

Công nghệ “khuếch đại ánh sáng mờ” về cơ bản cũng có nguyên lý như công nghệ của thiết bị hồng ngoại nhưng là hồng ngoại “thụ động” - nghĩa là không cần nguồn phát ra tia hồng ngoại nữa.

Sử dụng những vật liệu rất nhạy chế tạo ka-tốt nên chỉ cần được chiếu sáng bởi ánh sáng rất yếu như ánh sáng sao, ánh nến, ánh pháo sáng ở xa... chúng cũng sẽ phát xạ electron và được biến đổi, khuếch đại thành sánh sáng trông thấy.

Với công nghệ này thì sẽ không cần các đèn pha hồng ngoại để chiếu sáng nữa.

Còn công nghệ ảnh nhiệt thì dựa vào nhiệt độ của các vật thể so với nền nhiệt độ môi trường để cung cấp một bức tranh tổng thể về địa hình, địa vật và đường sá cho người lái xe trên màn hình.

Nó giúp cho lái xe quan sát được rộng hơn, tổng quát hơn mà không phải luôn luôn áp sát mắt vào ống kính.

Tuy nhiên, so với thiết bị nhìn đêm hồng ngoại chủ động thì các thiết bị nhìn đêm theo công nghệ “khuếch đại ánh sáng mờ” và công nghệ “ảnh nhiệt” có giá thành cao hơn khá nhiều.

Ngoài ra, do yêu cầu quan sát ở khoảng cách không xa lắm - thường là vài chục mét trở lại nên mặc dù đã khá lạc hậu song các kính lái đêm hồng ngoại theo nguyên lý chủ động vẫn được sử dụng cho đến tận bây giờ.

Nhưng dù là theo công nghệ gì thì chất lượng hình ảnh của các thiết bị nhìn đêm kể trên so với hình ảnh nhìn bằng mắt thường vào ban ngày hoặc được chiếu sáng rõ đều có sự khác biệt lớn cả về độ rõ nét và màu sắc.

Vì vậy, trước khi sử dụng để thực hành lái xe ban đêm cần phải cho người học làm quen với khí tài, tập quan sát nhận dạng vật thể trên các loại địa hình khác nhau... nhiều lần.

Còn trong quá trình lái cần phải thực hiện nghiêm ngặt các quy định bảo đảm an toàn, yêu cầu phải nhìn rõ đường mới đi. Trong trường hợp còn nghi ngờ phải dừng xe xuống kiểm tra, đảm bảo an toàn mới tiếp tục đi.

Đại tá xe tăng Việt Nam: Chạy đêm chẳng cần bật đèn
Đại tá xe tăng Việt Nam: Chạy đêm chẳng cần bật đèn

Để xe tăng - thiết giáp làm được điều đó, lái xe phải được trang bị một thiết bị đặc biệt. Đó là khí tài quan sát ban đêm - hay ngắn gọn hơn là “kính lái đêm”.

Từ yêu cầu giữ bí mật khi hành quân...

Trong hầu hết hoạt động chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu thì việc giữ bí mật đều hết sức quan trọng.

Có giữ được bí mật mới bảo vệ được lực lượng của mình trước hỏa lực đối phương, mới giấu được ý định của mình để tạo ra những bất ngờ, đột xuất ngoài dự liệu của kẻ địch...

ĐẠI TÁ NGUYỄN KHẮC NGUYỆT
Nguyên Trưởng ban KH-CN-MT Trường Sĩ quan Tăng Thiết giáp, nguyên chiến sĩ lái xe tăng số 380 thuộc Đại đội 4, Lữ đoàn 203, cùng đơn vị với các xe tăng 390 và 843 húc đổ cổng Dinh Độc Lập trưa 30-04-1975. Tác phẩm: Bão thép (4 tập), Bút ký lính tăng: Hành trình đến Dinh Độc Lập, 1 chọi 10 - Trận đấu tăng bị tráng...

Vì vậy, khi hoạt động ban đêm có một yêu cầu đặt ra đối với các phương tiện chiến đấu nói chung và xe tăng, thiết giáp nói riêng là không được để lộ ánh sáng - đó là thứ dễ bị đối phương phát hiện nhất.

Đối với các xe tăng thế hệ đầu tiên thì yêu cầu này thường được đáp ứng bằng cách sử dụng “đèn gầm” - một thứ đèn bị che chắn chỉ chiếu sáng rất gần và với một diện tích rất hẹp ngay trước mũi xe.

Tuy nhiên, điều đó chưa làm hài lòng các nhà chỉ huy vì ít nhiều vẫn còn tạo ra ánh sáng.

Cùng với sự tiến bộ khoa học công nghệ, trên các xe tăng chế tạo từ thập niên 60 thế kỷ XX đã bắt đầu được trang bị kính lái đêm cho lái xe.

Nhờ có kính này, các lái xe sẽ điều khiển được xe mà không cần bật đèn pha (thực ra vẫn phải bật đèn pha nhưng là đèn pha hồng ngoại, kính của đèn pha này có màu đen nên ngăn ánh sáng nhìn thấy lại và chỉ cho ánh sáng hông ngoại đi qua).

Bình thường, kính lái đêm được bảo quản riêng trong một hộp kín ngay gần vị trí lái xe. Chỉ khi sử dụng mới đem ra lắp vào vị trí của kính tiềm vọng chính của lái xe.

Trường hợp lái hành quân hoặc công tác được mở cửa, thò đầu thì lắp vào một giá kính riêng rồi gá vào cửa lái xe. Kính lái đêm thế hệ này là loại khí tài hồng ngoại chủ động.

 Một chiếc xe tăng của Ấn Độ hoạt động trong điều kiện ánh sáng hạn chế.

Một chiếc xe tăng của Ấn Độ hoạt động trong điều kiện ánh sáng hạn chế.

Nghĩa là, ánh sáng hồng ngoại từ đèn pha hồng ngoại sẽ được chiếu vào các vật thể xung quanh rồi phản xạ trở lại kính quan sát, sau đó được biến đổi thành ánh sáng nhìn thấy trong thị kính của lái xe giúp có thể quan sát được đường sá và cảnh vật xung quanh.

Bộ phận trung tâm của thiết bị này là “bộ biến đổi điện - quang” có tác dụng biến đổi ánh sáng hồng ngoại thành ánh sáng nhìn thấy.

Đó là một ống hình trụ, một đầu là ka-tốt được làm bằng vật liệu nhạy cảm với ánh sáng hồng ngoại, khi bị tia hồng ngoại chiếu vào thì sẽ làm bắn ra các electron. Đầu kia là a-nôt là một màn huỳnh quang và sẽ phát sáng khi bị các electron bắn vào.

Giữa ka-tốt và a-nốt là một điện áp cao khoảng 18- 20kV và bị ngăn bởi một màn chắn có một lỗ nhỏ ở tâm với mục đích hội tụ dòng electron.

Khi ánh sáng hồng ngoại phản xạ từ các vật thể chiếu vào ka-tốt sẽ làm các electron ở đây bị bứt ra, dưới tác dụng của điện trường mạnh các electron này sẽ lao về phía a-nôt với một vận tốc rất lớn.

Sự va đập này làm màn huỳnh quang phát sáng phát ra ảnh của vật thể đó bằng ánh sáng nhìn thấy.

Tất nhiên, so với hình ảnh quan sát trong điều kiện chiếu sáng bình thường thì không rõ nét và màu sắc cũng không rõ bằng song cũng đủ cho lái xe quan sát được địa hình và đường sá.

 Một chiếc xe tăng T-72 qua kính nhìn đêm.

Một chiếc xe tăng T-72 qua kính nhìn đêm.

... đến trang bị ngày càng hiện đại

Cùng với thời gian, người ta tiếp tục nghiên cứu nâng cao chất lượng cho kính lái đêm của lái xe tăng - thiết giáp theo hướng hiện đại hơn, quan sát rõ nét hơn... như áp dụng công nghệ “khuyếch đại ánh sáng mờ” và mới nhất là “công nghệ ảnh nhiệt”.

Công nghệ “khuếch đại ánh sáng mờ” về cơ bản cũng có nguyên lý như công nghệ của thiết bị hồng ngoại nhưng là hồng ngoại “thụ động” - nghĩa là không cần nguồn phát ra tia hồng ngoại nữa.

Sử dụng những vật liệu rất nhạy chế tạo ka-tốt nên chỉ cần được chiếu sáng bởi ánh sáng rất yếu như ánh sáng sao, ánh nến, ánh pháo sáng ở xa... chúng cũng sẽ phát xạ electron và được biến đổi, khuếch đại thành sánh sáng trông thấy.

Với công nghệ này thì sẽ không cần các đèn pha hồng ngoại để chiếu sáng nữa.

Còn công nghệ ảnh nhiệt thì dựa vào nhiệt độ của các vật thể so với nền nhiệt độ môi trường để cung cấp một bức tranh tổng thể về địa hình, địa vật và đường sá cho người lái xe trên màn hình.

Nó giúp cho lái xe quan sát được rộng hơn, tổng quát hơn mà không phải luôn luôn áp sát mắt vào ống kính.

Tuy nhiên, so với thiết bị nhìn đêm hồng ngoại chủ động thì các thiết bị nhìn đêm theo công nghệ “khuếch đại ánh sáng mờ” và công nghệ “ảnh nhiệt” có giá thành cao hơn khá nhiều.

Ngoài ra, do yêu cầu quan sát ở khoảng cách không xa lắm - thường là vài chục mét trở lại nên mặc dù đã khá lạc hậu song các kính lái đêm hồng ngoại theo nguyên lý chủ động vẫn được sử dụng cho đến tận bây giờ.

Nhưng dù là theo công nghệ gì thì chất lượng hình ảnh của các thiết bị nhìn đêm kể trên so với hình ảnh nhìn bằng mắt thường vào ban ngày hoặc được chiếu sáng rõ đều có sự khác biệt lớn cả về độ rõ nét và màu sắc.

Vì vậy, trước khi sử dụng để thực hành lái xe ban đêm cần phải cho người học làm quen với khí tài, tập quan sát nhận dạng vật thể trên các loại địa hình khác nhau... nhiều lần.

Còn trong quá trình lái cần phải thực hiện nghiêm ngặt các quy định bảo đảm an toàn, yêu cầu phải nhìn rõ đường mới đi. Trong trường hợp còn nghi ngờ phải dừng xe xuống kiểm tra, đảm bảo an toàn mới tiếp tục đi.

Chủ Nhật, 13 tháng 3, 2016

Sau Cuba, tên lửa Mỹ lại "đi lạc" sang Serbia

Sau Cuba, tên lửa Mỹ lại "đi lạc" sang Serbia
Sau Cuba, tên lửa Mỹ lại "đi lạc" sang Serbia

2 tên lửa không-đối-đất đáng lẽ phải chuyển đến Mỹ nhưng lại được tìm thấy trên máy bay chở khách. Giới chức Serbia hiện đang điều tra vụ việc này.

Theo hãng thông tấn Tanjug (Serbia), Air Serbia - hãng hàng không lớn nhất tại Serbia - xác nhận rằng chó nghiệp vụ của họ đã phát hiện ra kiện hàng bất thường trên máy bay chở khách.

Tờ Huffington Post cho biết, máy bay này khởi hành từ Beirut (Lebanon).

Trước đó, truyền thông Serbia đưa tin, 2 tên lửa (mỗi tên lửa dài 1,5m) được tìm thấy trên khoang máy bay chở khách tại sân bay Belgrade Nikola Tesla.

Chúng được đặt trong một chiếc thùng gỗ với các giấy tờ liên quan ghi chép điểm đến là Portland, bang Oregon (Mỹ).

Các tên lửa này có vẻ là AGM-114 Hellfire, một loại tên lửa chính xác có thể được phóng từ mặt đất, trên biển hoặc trên không (như trang bị cho máy bay không người lái tấn công Predator).

Mỗi tên lửa trị giá 10.000 USD, có tầm bắn lên tới 8km.

 Tên lửa Hellfire.

Tên lửa Hellfire.

Người phát ngôn của FBI tại Portland cho hay, cơ quan này đã nhận được thông báo nhưng từ chối cung cấp thông tin.

Trong khi đó, Lockheed Martin, nhà sản xuất tên lửa Hellfire, cho biết họ vẫn chưa được thông báo tình hình.

Robert Caruso, cựu nhân viên Bộ Ngoại giao Mỹ đăng trên twitter rằng, không có lý do hợp pháp nào để các tên lửa này được mang lên máy bay chở khách. Rất có thể, chúng đã bị đánh cắp.

Trao đổi với kênh truyền hình N1 (Serbia), chuyên gia quân sự Aleksander Radić cho hay, mặc dù các loại vũ khí thi thoảng được chuyển qua sân bay Nikola Tesla nhưng xưa nay chưa từng nghe có trường hợp chúng được vận chuyển bằng máy bay chở khách.

Đáng chú ý là trước đó, vào tháng 6/2015, Bộ Ngoại giao Mỹ thông báo nước này có thể cung cấp 1.000 tên lửa Hellfire cho Lebanon.

Nếu vụ việc này được các bên xác nhận thì đây không phải lần đầu tiên tên lửa Hellfire bị "chuyển nhầm" địa chỉ.

Tháng Một năm nay, tờ Wall Street Journal đưa tin, một tên lửa Hellfire đáng lẽ phải chuyển đến châu Âu để phục vụ công tác huấn luyện nhưng rốt cuộc lại bị “chuyển nhầm” tới Cuba vào năm 2014.

Giới chức Mỹ đã phải tìm mọi cách thuyết phục chính phủ Cuba trả lại tên lửa bị gửi nhầm do lo sợ nước này có thể chia sẻ các công nghệ quân sự nhạy cảm của Hellfire cho các nước như Nga, Trung Quốc và Triều Tiên.

Theo Huffington Post, hiện tên lửa Hellfire có mặt tại nhiều khu vực trên thế giới.

Chẳng hạn như trong tháng 1 vừa qua, Cơ quan hợp tác an ninh quốc phòng Mỹ đã thông qua hợp đồng trị giá 800 triệu USD để cung cấp 5.000 tên lửa loại này cho chính phủ Iraq, nhằm hỗ trợ cuộc chiến chống tổ chức khủng bố IS.

Sau Cuba, tên lửa Mỹ lại "đi lạc" sang Serbia
Sau Cuba, tên lửa Mỹ lại "đi lạc" sang Serbia

2 tên lửa không-đối-đất đáng lẽ phải chuyển đến Mỹ nhưng lại được tìm thấy trên máy bay chở khách. Giới chức Serbia hiện đang điều tra vụ việc này.

Theo hãng thông tấn Tanjug (Serbia), Air Serbia - hãng hàng không lớn nhất tại Serbia - xác nhận rằng chó nghiệp vụ của họ đã phát hiện ra kiện hàng bất thường trên máy bay chở khách.

Tờ Huffington Post cho biết, máy bay này khởi hành từ Beirut (Lebanon).

Trước đó, truyền thông Serbia đưa tin, 2 tên lửa (mỗi tên lửa dài 1,5m) được tìm thấy trên khoang máy bay chở khách tại sân bay Belgrade Nikola Tesla.

Chúng được đặt trong một chiếc thùng gỗ với các giấy tờ liên quan ghi chép điểm đến là Portland, bang Oregon (Mỹ).

Các tên lửa này có vẻ là AGM-114 Hellfire, một loại tên lửa chính xác có thể được phóng từ mặt đất, trên biển hoặc trên không (như trang bị cho máy bay không người lái tấn công Predator).

Mỗi tên lửa trị giá 10.000 USD, có tầm bắn lên tới 8km.

 Tên lửa Hellfire.

Tên lửa Hellfire.

Người phát ngôn của FBI tại Portland cho hay, cơ quan này đã nhận được thông báo nhưng từ chối cung cấp thông tin.

Trong khi đó, Lockheed Martin, nhà sản xuất tên lửa Hellfire, cho biết họ vẫn chưa được thông báo tình hình.

Robert Caruso, cựu nhân viên Bộ Ngoại giao Mỹ đăng trên twitter rằng, không có lý do hợp pháp nào để các tên lửa này được mang lên máy bay chở khách. Rất có thể, chúng đã bị đánh cắp.

Trao đổi với kênh truyền hình N1 (Serbia), chuyên gia quân sự Aleksander Radić cho hay, mặc dù các loại vũ khí thi thoảng được chuyển qua sân bay Nikola Tesla nhưng xưa nay chưa từng nghe có trường hợp chúng được vận chuyển bằng máy bay chở khách.

Đáng chú ý là trước đó, vào tháng 6/2015, Bộ Ngoại giao Mỹ thông báo nước này có thể cung cấp 1.000 tên lửa Hellfire cho Lebanon.

Nếu vụ việc này được các bên xác nhận thì đây không phải lần đầu tiên tên lửa Hellfire bị "chuyển nhầm" địa chỉ.

Tháng Một năm nay, tờ Wall Street Journal đưa tin, một tên lửa Hellfire đáng lẽ phải chuyển đến châu Âu để phục vụ công tác huấn luyện nhưng rốt cuộc lại bị “chuyển nhầm” tới Cuba vào năm 2014.

Giới chức Mỹ đã phải tìm mọi cách thuyết phục chính phủ Cuba trả lại tên lửa bị gửi nhầm do lo sợ nước này có thể chia sẻ các công nghệ quân sự nhạy cảm của Hellfire cho các nước như Nga, Trung Quốc và Triều Tiên.

Theo Huffington Post, hiện tên lửa Hellfire có mặt tại nhiều khu vực trên thế giới.

Chẳng hạn như trong tháng 1 vừa qua, Cơ quan hợp tác an ninh quốc phòng Mỹ đã thông qua hợp đồng trị giá 800 triệu USD để cung cấp 5.000 tên lửa loại này cho chính phủ Iraq, nhằm hỗ trợ cuộc chiến chống tổ chức khủng bố IS.

Nga đưa siêu tăng T-14 Armata sang Syria?

Nga đưa siêu tăng T-14 Armata sang Syria?
Nga đưa siêu tăng T-14 Armata sang Syria?

Giám đốc tập đoàn công nghệ quốc gia Nga, Rostec, ông Sergei Chemezov cho biết, Nga đã bắt đầu sản xuất hàng loạt tăng T-14 Armata.

Trả lời phỏng vấn độc quyền tờ Wall Street Journal ngày 11/3, ông Sergei Chemezov khẳng định, Nga không có kế hoạch đưa xe tăng T-14 Armata tối tân sang Syria.

Trước câu hỏi của Wall Street Journal về khả năng Nga sử dụng siêu tăng thế hệ mới trong cuộc chiến chống “Nhà nước Hồi giáo” (IS), Giám đốc tập đoàn công nghệ quốc gia Nga, Rostec cho biết: Ở đó không có Armata.

Thứ nhất, ở đó chúng tôi hầu như không có các thiết bị quân sự dành cho lục quân. Về cơ bản, đó là các khẩu súng và vũ khí chống tăng. Lực lượng mà chúng tôi sử dụng chủ yếu ở Syria là không quân”.

Ông Sergei Chemezov cũng cho biết, Nga đã bắt đầu sản xuất hàng loạt tăng T-14 Armata nhằm đáp ứng cho nhu cầu trang bị quốc phòng Nga tới năm 2020.

Lần đầu xuất hiện trước công chúng hôm 9/5/2015 trong lễ duyệt binh kỷ niệm 70 năm Chiến thắng phát xít ở Quảng trường Đỏ, tăng T-14 Armata lập tức thu hút sự quan tâm của các chuyên gia quân sự nước ngoài.

Xe tăng T-14 Armata được nhận định sẽ định hình các xu hướng chính trong ngành chế tạo xe tăng thế giới trong 20 - 30 năm tới.

Ngoài khả năng vô hình trước radar, lớp giáp của siêu tăng T-14 Armata cũng được đánh giá là không thể chọc thủng và có khả năng bảo vệ trước bất kỳ loại đạn xe tăng hiện có nào, cũng như súng phóng lựu và các tên lửa chống tăng.

Hồi tháng 6/2015, Phó thủ tướng Nga Dmitry Rogozin cho biết, tăng chiến đấu thế hệ mới T-14 Armata trong tương lai sẽ được trang bị pháo cỡ nòng 152 mm, có thể bắn thủng lớp thép dày 1 m.

Một khi được trang bị pháo 152 mm, T-14 Armata sẽ trở thành xe tăng có pháo lớn nhất và mạnh nhất thế giới. Pháo tăng cỡ nòng này là gần bằng các loại pháo 155 mm của lực lượng pháo binh.

Nga đưa siêu tăng T-14 Armata sang Syria?
Nga đưa siêu tăng T-14 Armata sang Syria?

Giám đốc tập đoàn công nghệ quốc gia Nga, Rostec, ông Sergei Chemezov cho biết, Nga đã bắt đầu sản xuất hàng loạt tăng T-14 Armata.

Trả lời phỏng vấn độc quyền tờ Wall Street Journal ngày 11/3, ông Sergei Chemezov khẳng định, Nga không có kế hoạch đưa xe tăng T-14 Armata tối tân sang Syria.

Trước câu hỏi của Wall Street Journal về khả năng Nga sử dụng siêu tăng thế hệ mới trong cuộc chiến chống “Nhà nước Hồi giáo” (IS), Giám đốc tập đoàn công nghệ quốc gia Nga, Rostec cho biết: Ở đó không có Armata.

Thứ nhất, ở đó chúng tôi hầu như không có các thiết bị quân sự dành cho lục quân. Về cơ bản, đó là các khẩu súng và vũ khí chống tăng. Lực lượng mà chúng tôi sử dụng chủ yếu ở Syria là không quân”.

Ông Sergei Chemezov cũng cho biết, Nga đã bắt đầu sản xuất hàng loạt tăng T-14 Armata nhằm đáp ứng cho nhu cầu trang bị quốc phòng Nga tới năm 2020.

Lần đầu xuất hiện trước công chúng hôm 9/5/2015 trong lễ duyệt binh kỷ niệm 70 năm Chiến thắng phát xít ở Quảng trường Đỏ, tăng T-14 Armata lập tức thu hút sự quan tâm của các chuyên gia quân sự nước ngoài.

Xe tăng T-14 Armata được nhận định sẽ định hình các xu hướng chính trong ngành chế tạo xe tăng thế giới trong 20 - 30 năm tới.

Ngoài khả năng vô hình trước radar, lớp giáp của siêu tăng T-14 Armata cũng được đánh giá là không thể chọc thủng và có khả năng bảo vệ trước bất kỳ loại đạn xe tăng hiện có nào, cũng như súng phóng lựu và các tên lửa chống tăng.

Hồi tháng 6/2015, Phó thủ tướng Nga Dmitry Rogozin cho biết, tăng chiến đấu thế hệ mới T-14 Armata trong tương lai sẽ được trang bị pháo cỡ nòng 152 mm, có thể bắn thủng lớp thép dày 1 m.

Một khi được trang bị pháo 152 mm, T-14 Armata sẽ trở thành xe tăng có pháo lớn nhất và mạnh nhất thế giới. Pháo tăng cỡ nòng này là gần bằng các loại pháo 155 mm của lực lượng pháo binh.

Thứ Bảy, 12 tháng 3, 2016

Chuyện ít biết về "bóng ma" F-4

Chuyện ít biết về "bóng ma" F-4
Chuyện ít biết về "bóng ma" F-4

Những năm 1960, khi NASA phóng tên lửa Titan từ mũi Canaveral, họ cần 1 máy bay theo sát ghi hình khi tên lửa vượt mốc vận tốc siêu âm ở độ cao 10km. F-4 là lựa chọn phù hợp nhất.

“Hai động cơ phản lực J79 chính là điểm khác biệt” - Jack Petry, cựu đại tá không quân Mỹ, cho biết. Ông cũng là phi công được chọn thực hiện nhiệm vụ trên.

Trong quá trình đếm ngược cho đến lúc phóng tên lửa, Petry thực hiện cú bổ nhào để đạt vật tốc Mach 1,2 và sau đó nhắm theo hướng luồng khói từ động cơ khi tên lửa vừa rời khỏi bệ phóng để áp sát.

Ông phải liên tục điều chỉnh vận tốc tiếp cận và xử lý các thông số nhận được từ mặt đất để đảm bảo các camera (có tốc độ chụp lên đến 900 khung ảnh/giây, gắn dưới cánh máy bay) luôn hướng về phía tên lửa.

Trong 90 giây sau khi phóng, chiếc F-4 phải duy trì vận tốc tương đương với Titan, đồng thời tránh luồng phản lực từ động cơ tên lửa.

Máy bay F-4 Phantom của Mỹ thả bom
Máy bay F-4 Phantom của Mỹ thả bom

Trong một lần ghi hình vụ phóng tên lửa Titan II vào tháng 1/1965, chiếc F-4 của Petry đã đạt đến độ cao gần 21 km, trong khi trần bay theo thiết kế của nó chỉ vào khoảng 15 km.

Qua điện đài, Petry có thể nghe rõ tiếng kiểm soát viên ở đài điều khiển liên tục yêu cầu ông quay trở lại nhưng ông trấn an rằng máy bay vẫn còn đủ sức đẩy để tiếp tục hành trình của mình.

Ngay cả sau khi đã vượt qua giới hạn bay của mình ở độ cao 21 km, chiếc F-4 vẫn khá ổn định, cho phép Petry thực hiện cú lộn vòng, tái lập sức nâng và tiếp tục ghi hình.

Đây là một trong số rất nhiều loại nhiệm vụ mà F-4 thực hiện trong khoảng thời gian hoạt động gần 40 năm của mình.

Kỷ nguyên chiến đấu cơ 2 chỗ ngồi

Năm 1954, đích thân James S. McDonnell, người sáng lập của hãng sản xuất máy bay McDonnell, trình bày bản thiết kế sơ khởi của mẫu chiến đấu cơ này cho Lầu Năm Góc, dựa trên các yêu cầu của hải quân Mỹ.

Sau đó, ông được chấp thuận để triển khai giai đoạn thiết kế chi tiết, cạnh tranh cùng với 1 mẫu thiết kế khác là chiếc F8U-3.

Giai đoạn này diễn ra tại một góc nhỏ bên trong nhà máy của McDonnell tại thành phố St.Louis, chỉ với một đội ngũ kỹ sư gồm 4 người.

Cùng lúc đó, Hải quân Mỹ cũng dần hoàn thiện học thuyết không chiến mới của mình.

Yêu cầu được đặt ra là một mẫu chiến đấu cơ đánh chặn 2 chỗ ngồi, hoạt động ở độ cao lớn, nhằm bảo vệ những tàu sân bay hạng nặng mới thuộc lớp Forrestal khỏi sự đe dọa từ các máy bay ném bom của Liên Xô.

Dự án F-4 trở thành dự án chính của McDonnell và được hãng tập trung mọi nguồn lực vào đó.

 Máy bay F-4 của Mỹ và các vũ khí.

Máy bay F-4 của Mỹ và các vũ khí.

F-4 được thiết kế dựa trên dự đoán của hải quân Mỹ về chiến tranh trong tương lai thay vì kinh nghiệm rút ra từ những cuộc chiến trước đó. Vị trí phi công phụ được thêm vào để xử lý lượng thông tin lớn hơn từ các thiết bị điện tử.

Vai trò của pháo trong không chiến cũng được cho là sẽ bị các tên lửa dẫn bằng radar thay thế. Hệ thống điện tử của F-4 tuy chưa hoàn toàn sử dụng công nghệ bán dẫn nhưng đã rất hiện đại vào thời điểm đó.

Điều này cũng gây ra thách thức không nhỏ trong quá trình chế tạo, lắp ráp hơn 30.000 thiết bị điện tử và 23 km dây dẫn. Những thiết bị này tạo ra rất nhiều trường điện từ và có thể gây nhiễu lẫn nhau.

Ví dụ như đồng hồ nhiên liệu có thể chỉ đầy trong khi thực tế bồn chứa hoàn toàn rỗng.

Một trường hợp khó tin hơn nữa là khi tần số giọng nói của 1 phi công thử nghiệm vô tình giao thoa với tín hiệu của hệ thống lái tự động gây tình trạng mất điều khiển tạm thời.

Sau khi F-4 chính thức đánh bại đối thủ F8U-3, một quan chức của hải quân Mỹ đã tuyên bố: “Thời đại của chiến đấu cơ 1 chỗ ngồi đã kết thúc”.

Động cơ J79 khi đó vẫn còn vấn đề về luồng khói thải có thể được nhìn thấy từ khoảng cách 40 km, một vấn đề mà phải 2 thập niên sau mới được giải quyết dứt điểm.

Tuy nhiên, F-4 vẫn chính thức được bàn giao cho hải quân Mỹ, với thời hạn bảo hành 1.000 giờ, vào tháng 12/1960.

Chiếc chiến đấu cơ mạnh mẽ, có khả năng đạt vận tốc Mach 2, cùng với rất nhiều trang thiết bị điện tử này được kỳ vọng sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong tác chiến trên không.

Trước đó, những phi công của hải quân phải tự hài lòng với các mẫu chiến đấu cơ phản lực với tính năng hạn chế do phải thích ứng với điều kiện vận hành khắc nghiệt trên tàu sân bay.

Ví dụ như chiếc F3H, cũng của hãng McDonnell, chỉ có thể bay ở vận tốc hạ âm. Song với sự ra đời của F-4, những phi công hải quân lại được vận hành mẫu chiến đấu cơ hàng đầu thế giới.

Thử lửa tại Việt Nam

Quá trình làm quen với F-4 cũng không đơn giản. Phi công chính và phi công phụ phía sau, hay còn gọi là sĩ quan radar (RIO), phải phối hợp ăn ý với nhau.

Các phi công hải quân trước đó đã quen với việc độc lập tác chiến, vì vậy việc có thêm 1 đồng đội phía sau ban đầu được đón nhận khá dè dặt.

Tuy nhiên, thực tế tác chiến tại Việt Nam đã cho thấy lợi ích của RIO. “Chúng tôi phân công nhiệm vụ cho nhau, anh ấy đã giúp tôi tránh khỏi nhiều tình huống nguy hiểm.

Trong tác chiến, có rất nhiều tác vụ phải xử lý và tôi thực sự cần có sự hỗ trợ của người ngồi sau”, John Chesire, người đã có 197 phi vụ trong chiến tranh Việt Nam cho biết.

Nhưng tham chiến mà không có pháo lại là một vấn đề khác. “Đó là sai lầm lớn nhất khi thiết kế F-4” - Chesire nói. “Đạn rất rẻ và luôn đi đúng hướng mà bạn muốn. Tôi ước gì khi đó mình được trang bị pháo".

Một phi đội F-4 được tiếp nhiên liệu trên không trong chiến tranh Việt Nam
Một phi đội F-4 được tiếp nhiên liệu trên không trong chiến tranh Việt Nam

Phantom còn có một phiên bản đặc biệt dùng cho trinh sát, gọi là RF-4B, được trang bị camera chụp ảnh và cảm biến hồng ngoại. Mẫu máy bay trinh sát này hoạt động độc lập và không được vũ trang, vì vậy tốc độ cao chính là lớp bảo vệ quan trọng nhất của RF-4B.

Để camera có thể hoạt động tốt nhất, RF-4B buộc phải duy trì đường bay thẳng ở độ cao không đổi 1,5 km. Điều này khiến nó trở thành mục tiêu thường xuyên của hỏa lực phòng không từ mặt đất.

Tướng về hưu Jack Dailey, người từng bay hơn 250 phi vụ trinh sát bên trên đường mòn Hồ Chí Minh kể lại: “Ngày nào chúng tôi cũng phải hứng lưới lửa phòng không.”

Bản thân Dailey từng 9 lần bị trúng đạn từ mặt đất. Một viên đạn xuyên qua buồng lái và chỉ sượt qua Dailey trong gang tấc.

Trong một lần khác, chiếc RF-4B của ông bị trúng đạn nhiều đến mức sau khi hạ cánh, người ta có thể nhìn thấy ánh sáng chiếu xuyên qua những lỗ thủng trên thân máy bay.

Khả năng cung cấp sức đẩy tức thời của động cơ J79 giúp tăng độ an toàn khi hạ cánh trên tàu sân bay vì nó cho phép phi công ngay lập tức cất cánh trở lại nếu gặp vấn đề.

Chesire từng trải qua kinh nghiệm này trong một lần hạ cánh trên chiếc USS Midway. Ông mắc một sai lầm sơ đẳng khi vội giảm hết công suất cả 2 động cơ và ngay sau đó phát hiện ra rằng máy bay của mình chưa móc được vào cáp hãm của tàu.

Camera trên chiếc Midway ghi lại hình ảnh chiếc F-4 biến mất sau khi chạy hết đường băng, nhưng ngay sau đó bay vọt lên lại, với động cơ ở chế độ đốt hậu, nhờ Chesire kịp tăng công suất lên tối đa.

Phi đoàn số 497, đóng tại Ubon Ratchathani, Thái Lan, có biệt danh là “Cú đêm”, vì chuyên thực hiện các phi vụ về đêm.

Doug Joyce , một cựu phi công nhớ lại: “Khi lần đầu tiên đến doanh trại của phi đoàn, điều đầu tiên đập vào mắt tôi là mọi thứ đều được sơn đen”.

Đơn vị này ít khi tác chiến với số lượng đông như các phi vụ ban ngày. Các phi đội thường xuất kích với đội hình chỉ 2 chiếc.

Những chiếc F-4 của “Cú đêm” có phần bụng được sơn đen và được trang bị bom thông thường hoặc bom dẫn đường bằng laser cho các phi vụ đánh chặn mục tiêu trên bộ.

“Pháo phòng không 37 mm là mối đe dọa lớn nhất với chúng tôi,” Joyce cho biết.

Tuy nhiên, nhiệm vụ nguy hiểm nhất và chỉ dành cho những phi công lão luyện nhất của phi đoàn là hộ tống B-52 vào đánh phá Hà Nội. Joyce kể lại trải nghiệm cá nhân của mình:

“Thật là nghẹt thở. Ngay từ những giờ phút đầu tiên, mặc dù được sự yểm trợ của những phi đội diệt tên lửa đất đối không Wild Weasel, vẫn có hàng trăm tên lửa phóng về phía chúng tôi.

B-52 hoạt động ở độ cao gần với trần bay của F-4. Chúng tôi cũng tránh dùng chế độ đốt hậu vì luồng phản lực rất dễ bị phát hiện về đêm.

Và việc cơ động theo phương ngang cũng bị hạn chế khi bay theo đội hình với nhiều máy bay khác bên cạnh.”

Một trong những cách để che chắn B-52 trước radar phòng không là thả một số lượng lớn những dải kim loại mỏng để tạo thành những “đám mây” nhiễu.

Tuy nhiên, với những chiếc F-4 lãnh trách nhiệm này thì chúng lại gây tác dụng ngược, vì trên màn hình radar, những “đám mây” này sẽ hiển thị giống một mũi tên lớn mà đỉnh nhọn chính là chiếc F-4 đang thả những dải kim loại trên.

Chiến dịch bão táp sa mạc

Jim Schreiner từng là phi công lái A-10 trong một thời gian dài và chỉ còn một chuyến công tác nữa trước khi chuyển về một công việc bàn giấy vào năm 1990.

Ông đề xuất được lái F-16 hay F-15 nhưng lại được chỉ định lái 1 chiếc F-4G. “Tuy vẫn là 1 chiến đấu cơ nhưng nó không phải là điều tôi mong đợi,” Schreiner nhớ lại.

Hai mươi năm sau khi hơn 200 máy bay Mỹ bị bắn rơi bởi tên lửa đất đối không tại Việt Nam, những phi công như Schreiner tiếp tục lái phiên bản cải tiến của những chiếc F-4 Wild Weasel chuyên tìm diệt radar phòng không trong chiến dịch Bão táp sa mạc.

Tuy nhiên, kết quả lần này lại hoàn toàn trái ngược khi không có máy bay Mỹ nào bị tên lửa phòng không của Iraq bắn rơi.

Những chiếc F-4 Wild Weasel được trang bị hệ thống cảnh báo và định vị radar AN/APR-47.

Vị trí ghế lái phía sau được bổ sung thêm nhiều thiết bị. Nhưng trang bị đáng giá nhất là từ 2 đến 4 tên lửa diệt radar AGM-88, có khả năng dò theo tín hiệu radar của những giàn phóng tên lửa phòng không.

2 giờ sáng ngày đầu tiên của chiến dịch, Schreiner và phi công phụ Dan Sharp, đang bay trong đội hình 2 chiếc, phát hiện vị trí tên lửa phòng không của Iraq.

So với bộ đội tên lửa Việt Nam trước đây, lính Iraq chưa có kinh nghiệm đối phó với người Mỹ và luôn để các radar của mình vận hành ở mức công suất tối đa. Kết quả là những phi công như Schreiner có rất nhiều mục tiêu để lựa chọn.

Từ trong buồng lái của mình, Schreiner quan sát từng tên lửa AGM-88 tìm đến mục tiêu. Trên màn hình radar của chiếc Phantom, những các vị trí tên lửa đối phương dần biến mất.

Không quân Iraq cũng không phải là mối bận tâm. Những chiếc F-4 Wild Weasel được trang bị tên lửa không đối không AIM-7 Sparrow song chúng không bao giờ được sử dụng.

“Nếu thực sự có những mối đe dọa trên không thì cũng đã có những chiếc F-15 xử lý…Chúng tôi tiếp tục bay như vậy cho đến khi kết thúc cuộc chiến", Schreiner cho biết.

Chuyện ít biết về "bóng ma" F-4
Chuyện ít biết về "bóng ma" F-4

Những năm 1960, khi NASA phóng tên lửa Titan từ mũi Canaveral, họ cần 1 máy bay theo sát ghi hình khi tên lửa vượt mốc vận tốc siêu âm ở độ cao 10km. F-4 là lựa chọn phù hợp nhất.

“Hai động cơ phản lực J79 chính là điểm khác biệt” - Jack Petry, cựu đại tá không quân Mỹ, cho biết. Ông cũng là phi công được chọn thực hiện nhiệm vụ trên.

Trong quá trình đếm ngược cho đến lúc phóng tên lửa, Petry thực hiện cú bổ nhào để đạt vật tốc Mach 1,2 và sau đó nhắm theo hướng luồng khói từ động cơ khi tên lửa vừa rời khỏi bệ phóng để áp sát.

Ông phải liên tục điều chỉnh vận tốc tiếp cận và xử lý các thông số nhận được từ mặt đất để đảm bảo các camera (có tốc độ chụp lên đến 900 khung ảnh/giây, gắn dưới cánh máy bay) luôn hướng về phía tên lửa.

Trong 90 giây sau khi phóng, chiếc F-4 phải duy trì vận tốc tương đương với Titan, đồng thời tránh luồng phản lực từ động cơ tên lửa.

Máy bay F-4 Phantom của Mỹ thả bom
Máy bay F-4 Phantom của Mỹ thả bom

Trong một lần ghi hình vụ phóng tên lửa Titan II vào tháng 1/1965, chiếc F-4 của Petry đã đạt đến độ cao gần 21 km, trong khi trần bay theo thiết kế của nó chỉ vào khoảng 15 km.

Qua điện đài, Petry có thể nghe rõ tiếng kiểm soát viên ở đài điều khiển liên tục yêu cầu ông quay trở lại nhưng ông trấn an rằng máy bay vẫn còn đủ sức đẩy để tiếp tục hành trình của mình.

Ngay cả sau khi đã vượt qua giới hạn bay của mình ở độ cao 21 km, chiếc F-4 vẫn khá ổn định, cho phép Petry thực hiện cú lộn vòng, tái lập sức nâng và tiếp tục ghi hình.

Đây là một trong số rất nhiều loại nhiệm vụ mà F-4 thực hiện trong khoảng thời gian hoạt động gần 40 năm của mình.

Kỷ nguyên chiến đấu cơ 2 chỗ ngồi

Năm 1954, đích thân James S. McDonnell, người sáng lập của hãng sản xuất máy bay McDonnell, trình bày bản thiết kế sơ khởi của mẫu chiến đấu cơ này cho Lầu Năm Góc, dựa trên các yêu cầu của hải quân Mỹ.

Sau đó, ông được chấp thuận để triển khai giai đoạn thiết kế chi tiết, cạnh tranh cùng với 1 mẫu thiết kế khác là chiếc F8U-3.

Giai đoạn này diễn ra tại một góc nhỏ bên trong nhà máy của McDonnell tại thành phố St.Louis, chỉ với một đội ngũ kỹ sư gồm 4 người.

Cùng lúc đó, Hải quân Mỹ cũng dần hoàn thiện học thuyết không chiến mới của mình.

Yêu cầu được đặt ra là một mẫu chiến đấu cơ đánh chặn 2 chỗ ngồi, hoạt động ở độ cao lớn, nhằm bảo vệ những tàu sân bay hạng nặng mới thuộc lớp Forrestal khỏi sự đe dọa từ các máy bay ném bom của Liên Xô.

Dự án F-4 trở thành dự án chính của McDonnell và được hãng tập trung mọi nguồn lực vào đó.

 Máy bay F-4 của Mỹ và các vũ khí.

Máy bay F-4 của Mỹ và các vũ khí.

F-4 được thiết kế dựa trên dự đoán của hải quân Mỹ về chiến tranh trong tương lai thay vì kinh nghiệm rút ra từ những cuộc chiến trước đó. Vị trí phi công phụ được thêm vào để xử lý lượng thông tin lớn hơn từ các thiết bị điện tử.

Vai trò của pháo trong không chiến cũng được cho là sẽ bị các tên lửa dẫn bằng radar thay thế. Hệ thống điện tử của F-4 tuy chưa hoàn toàn sử dụng công nghệ bán dẫn nhưng đã rất hiện đại vào thời điểm đó.

Điều này cũng gây ra thách thức không nhỏ trong quá trình chế tạo, lắp ráp hơn 30.000 thiết bị điện tử và 23 km dây dẫn. Những thiết bị này tạo ra rất nhiều trường điện từ và có thể gây nhiễu lẫn nhau.

Ví dụ như đồng hồ nhiên liệu có thể chỉ đầy trong khi thực tế bồn chứa hoàn toàn rỗng.

Một trường hợp khó tin hơn nữa là khi tần số giọng nói của 1 phi công thử nghiệm vô tình giao thoa với tín hiệu của hệ thống lái tự động gây tình trạng mất điều khiển tạm thời.

Sau khi F-4 chính thức đánh bại đối thủ F8U-3, một quan chức của hải quân Mỹ đã tuyên bố: “Thời đại của chiến đấu cơ 1 chỗ ngồi đã kết thúc”.

Động cơ J79 khi đó vẫn còn vấn đề về luồng khói thải có thể được nhìn thấy từ khoảng cách 40 km, một vấn đề mà phải 2 thập niên sau mới được giải quyết dứt điểm.

Tuy nhiên, F-4 vẫn chính thức được bàn giao cho hải quân Mỹ, với thời hạn bảo hành 1.000 giờ, vào tháng 12/1960.

Chiếc chiến đấu cơ mạnh mẽ, có khả năng đạt vận tốc Mach 2, cùng với rất nhiều trang thiết bị điện tử này được kỳ vọng sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong tác chiến trên không.

Trước đó, những phi công của hải quân phải tự hài lòng với các mẫu chiến đấu cơ phản lực với tính năng hạn chế do phải thích ứng với điều kiện vận hành khắc nghiệt trên tàu sân bay.

Ví dụ như chiếc F3H, cũng của hãng McDonnell, chỉ có thể bay ở vận tốc hạ âm. Song với sự ra đời của F-4, những phi công hải quân lại được vận hành mẫu chiến đấu cơ hàng đầu thế giới.

Thử lửa tại Việt Nam

Quá trình làm quen với F-4 cũng không đơn giản. Phi công chính và phi công phụ phía sau, hay còn gọi là sĩ quan radar (RIO), phải phối hợp ăn ý với nhau.

Các phi công hải quân trước đó đã quen với việc độc lập tác chiến, vì vậy việc có thêm 1 đồng đội phía sau ban đầu được đón nhận khá dè dặt.

Tuy nhiên, thực tế tác chiến tại Việt Nam đã cho thấy lợi ích của RIO. “Chúng tôi phân công nhiệm vụ cho nhau, anh ấy đã giúp tôi tránh khỏi nhiều tình huống nguy hiểm.

Trong tác chiến, có rất nhiều tác vụ phải xử lý và tôi thực sự cần có sự hỗ trợ của người ngồi sau”, John Chesire, người đã có 197 phi vụ trong chiến tranh Việt Nam cho biết.

Nhưng tham chiến mà không có pháo lại là một vấn đề khác. “Đó là sai lầm lớn nhất khi thiết kế F-4” - Chesire nói. “Đạn rất rẻ và luôn đi đúng hướng mà bạn muốn. Tôi ước gì khi đó mình được trang bị pháo".

Một phi đội F-4 được tiếp nhiên liệu trên không trong chiến tranh Việt Nam
Một phi đội F-4 được tiếp nhiên liệu trên không trong chiến tranh Việt Nam

Phantom còn có một phiên bản đặc biệt dùng cho trinh sát, gọi là RF-4B, được trang bị camera chụp ảnh và cảm biến hồng ngoại. Mẫu máy bay trinh sát này hoạt động độc lập và không được vũ trang, vì vậy tốc độ cao chính là lớp bảo vệ quan trọng nhất của RF-4B.

Để camera có thể hoạt động tốt nhất, RF-4B buộc phải duy trì đường bay thẳng ở độ cao không đổi 1,5 km. Điều này khiến nó trở thành mục tiêu thường xuyên của hỏa lực phòng không từ mặt đất.

Tướng về hưu Jack Dailey, người từng bay hơn 250 phi vụ trinh sát bên trên đường mòn Hồ Chí Minh kể lại: “Ngày nào chúng tôi cũng phải hứng lưới lửa phòng không.”

Bản thân Dailey từng 9 lần bị trúng đạn từ mặt đất. Một viên đạn xuyên qua buồng lái và chỉ sượt qua Dailey trong gang tấc.

Trong một lần khác, chiếc RF-4B của ông bị trúng đạn nhiều đến mức sau khi hạ cánh, người ta có thể nhìn thấy ánh sáng chiếu xuyên qua những lỗ thủng trên thân máy bay.

Khả năng cung cấp sức đẩy tức thời của động cơ J79 giúp tăng độ an toàn khi hạ cánh trên tàu sân bay vì nó cho phép phi công ngay lập tức cất cánh trở lại nếu gặp vấn đề.

Chesire từng trải qua kinh nghiệm này trong một lần hạ cánh trên chiếc USS Midway. Ông mắc một sai lầm sơ đẳng khi vội giảm hết công suất cả 2 động cơ và ngay sau đó phát hiện ra rằng máy bay của mình chưa móc được vào cáp hãm của tàu.

Camera trên chiếc Midway ghi lại hình ảnh chiếc F-4 biến mất sau khi chạy hết đường băng, nhưng ngay sau đó bay vọt lên lại, với động cơ ở chế độ đốt hậu, nhờ Chesire kịp tăng công suất lên tối đa.

Phi đoàn số 497, đóng tại Ubon Ratchathani, Thái Lan, có biệt danh là “Cú đêm”, vì chuyên thực hiện các phi vụ về đêm.

Doug Joyce , một cựu phi công nhớ lại: “Khi lần đầu tiên đến doanh trại của phi đoàn, điều đầu tiên đập vào mắt tôi là mọi thứ đều được sơn đen”.

Đơn vị này ít khi tác chiến với số lượng đông như các phi vụ ban ngày. Các phi đội thường xuất kích với đội hình chỉ 2 chiếc.

Những chiếc F-4 của “Cú đêm” có phần bụng được sơn đen và được trang bị bom thông thường hoặc bom dẫn đường bằng laser cho các phi vụ đánh chặn mục tiêu trên bộ.

“Pháo phòng không 37 mm là mối đe dọa lớn nhất với chúng tôi,” Joyce cho biết.

Tuy nhiên, nhiệm vụ nguy hiểm nhất và chỉ dành cho những phi công lão luyện nhất của phi đoàn là hộ tống B-52 vào đánh phá Hà Nội. Joyce kể lại trải nghiệm cá nhân của mình:

“Thật là nghẹt thở. Ngay từ những giờ phút đầu tiên, mặc dù được sự yểm trợ của những phi đội diệt tên lửa đất đối không Wild Weasel, vẫn có hàng trăm tên lửa phóng về phía chúng tôi.

B-52 hoạt động ở độ cao gần với trần bay của F-4. Chúng tôi cũng tránh dùng chế độ đốt hậu vì luồng phản lực rất dễ bị phát hiện về đêm.

Và việc cơ động theo phương ngang cũng bị hạn chế khi bay theo đội hình với nhiều máy bay khác bên cạnh.”

Một trong những cách để che chắn B-52 trước radar phòng không là thả một số lượng lớn những dải kim loại mỏng để tạo thành những “đám mây” nhiễu.

Tuy nhiên, với những chiếc F-4 lãnh trách nhiệm này thì chúng lại gây tác dụng ngược, vì trên màn hình radar, những “đám mây” này sẽ hiển thị giống một mũi tên lớn mà đỉnh nhọn chính là chiếc F-4 đang thả những dải kim loại trên.

Chiến dịch bão táp sa mạc

Jim Schreiner từng là phi công lái A-10 trong một thời gian dài và chỉ còn một chuyến công tác nữa trước khi chuyển về một công việc bàn giấy vào năm 1990.

Ông đề xuất được lái F-16 hay F-15 nhưng lại được chỉ định lái 1 chiếc F-4G. “Tuy vẫn là 1 chiến đấu cơ nhưng nó không phải là điều tôi mong đợi,” Schreiner nhớ lại.

Hai mươi năm sau khi hơn 200 máy bay Mỹ bị bắn rơi bởi tên lửa đất đối không tại Việt Nam, những phi công như Schreiner tiếp tục lái phiên bản cải tiến của những chiếc F-4 Wild Weasel chuyên tìm diệt radar phòng không trong chiến dịch Bão táp sa mạc.

Tuy nhiên, kết quả lần này lại hoàn toàn trái ngược khi không có máy bay Mỹ nào bị tên lửa phòng không của Iraq bắn rơi.

Những chiếc F-4 Wild Weasel được trang bị hệ thống cảnh báo và định vị radar AN/APR-47.

Vị trí ghế lái phía sau được bổ sung thêm nhiều thiết bị. Nhưng trang bị đáng giá nhất là từ 2 đến 4 tên lửa diệt radar AGM-88, có khả năng dò theo tín hiệu radar của những giàn phóng tên lửa phòng không.

2 giờ sáng ngày đầu tiên của chiến dịch, Schreiner và phi công phụ Dan Sharp, đang bay trong đội hình 2 chiếc, phát hiện vị trí tên lửa phòng không của Iraq.

So với bộ đội tên lửa Việt Nam trước đây, lính Iraq chưa có kinh nghiệm đối phó với người Mỹ và luôn để các radar của mình vận hành ở mức công suất tối đa. Kết quả là những phi công như Schreiner có rất nhiều mục tiêu để lựa chọn.

Từ trong buồng lái của mình, Schreiner quan sát từng tên lửa AGM-88 tìm đến mục tiêu. Trên màn hình radar của chiếc Phantom, những các vị trí tên lửa đối phương dần biến mất.

Không quân Iraq cũng không phải là mối bận tâm. Những chiếc F-4 Wild Weasel được trang bị tên lửa không đối không AIM-7 Sparrow song chúng không bao giờ được sử dụng.

“Nếu thực sự có những mối đe dọa trên không thì cũng đã có những chiếc F-15 xử lý…Chúng tôi tiếp tục bay như vậy cho đến khi kết thúc cuộc chiến", Schreiner cho biết.

Cuộc gặp giữa Đại tướng Lê Đức Anh và ông Giang Trạch Dân

Cuộc gặp giữa Đại tướng Lê Đức Anh và ông Giang Trạch Dân
Cuộc gặp giữa Đại tướng Lê Đức Anh và ông Giang Trạch Dân

Cuối tháng 7/1991, Đại tướng Lê Đức Anh được Bộ Chính trị cử làm phái viên sang Trung Quốc bàn bạc những vấn đề cụ thể việc bình thường hoá quan hệ hai nước. Cuộc hội đàm chính thức diễn ra tại Trung Nam Hải vào buổi chiều ngày 31/7/1991.

Bài 1: Đại tướng Lê Đức Anh với vấn đề Trung Quốc và biển Đông

Bài 2: Dấu ấn Đại tướng với tuyến phòng thủ Trường Sa và cảng Cam Ranh

Nhìn lại nhiệm kỳ làm Bộ trưởng Quốc phòng của mình, Đại tướng Lê Đức Anh đã xúc tiến được mấy việc lớn:

Thăm dò và tiếp xúc mở luồng để lập lại quan hệ bình thường Việt-Trung, chấm dứt xung đột biên giới và 15 năm căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước láng giềng vốn có truyền thống hữu nghị.

Điều chỉnh bố trí chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước theo Đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong tình hình mới, tư duy mới của đất nước và quốc tế.

Giảm quân số thường trực và từ đó giảm gánh nặng ngân sách quốc phòng, góp phần tháo gỡ khó khăn ban đầu để nền kinh tế -xã hội có thêm điều kiện thoát ra khỏi khủng hoảng nghiêm trọng.

Củng cố thế bố trí bảo vệ quần đảo Trường Sa và giải quyết việc phi vũ khí hạt nhân ở bán đảo và quân cảng Cam Ranh và xúc tiến quan hệ để thu hồi Cam Ranh từ Liên bang Nga trước thời hạn của hiệp định.

Tuy nhiên hai việc sau (Trường Sa và Cam Ranh) còn kéo dài sang nhiệm kỳ Đại hội 7, tức là khi ông lên làm Chủ tịch nước thì mới xong hoàn toàn; nhưng ở nhiệm kỳ Bộ trưởng Quốc phòng đã làm được những phần rất cơ bản, sau đó chỉ là bước hoàn thiện mà thôi.

Thực chất khi làm việc, các vấn đề liên kết, ràng buộc, đan xen, chứ không mạch lạc từng phần từng việc như tôi kể ở trên đâu.

Tướng Anh thường tâm sự: “Đây là một bài toán cực kỳ khó, làm được mà trong nội bộ nhất trí cao là một thắng lợi, không nhất trí thì rất khó làm”.

Ngày 9/11/1993 tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh, Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân tổ chức lễ đón, chào mừng Chủ tịch nước Việt Nam Lê Đức Anh
Ngày 9/11/1993 tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh, Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân tổ chức lễ đón, chào mừng Chủ tịch nước Việt Nam Lê Đức Anh

Như vậy, trong nhiệm kỳ Đại hội 7 của Đảng ta; nhiệm kỳ mà tôi được trao trọng trách làm Chủ tịch nước, ở năm đầu nhiệm kỳ (1991) ta đã lập quan hệ bình thường với Trung Quốc, đến nửa cuối nhiệm kỳ, ta đã vận động và đấu tranh thắng lợi việc Mỹ xoá bao vây cấm vận và lập quan hệ bình thường với Việt Nam. Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN.

Nội địa có ổn định, thái bình, phên dậu biên ải có vững chãi thì dân và Nhà nước mới yên ổn làm ăn, kiến thiết tiến lên thịnh vượng.

Ý thức được điều này, cùng với việc xây dựng củng cố nội địa, tôi cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị rất chú tâm chỉ đạo công tác đối ngoại với các nước láng giềng để xây dựng, hoạch định đường biên giới trên bộ và việc phân định vùng biển và thềm lục địa trên tinh thần tích cực, kiên trì, tôn trọng luật pháp quốc tế, khi chưa thống nhất thì không làm phức tạp thêm tình hình để ảnh hưởng đến tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước.

Có nhiều việc, nhiều vấn đề nổi cộm, tôi đã nghiên cứu kỹ và chỉ đạo trực tiếp để các đồng chí bên Bộ Ngoại giao và Ban Biên giới Chính phủ nghiên cứu triển khai thực hiện; các đồng chí đó đã làm việc rất tốt, rất có hiệu quả…”.

Ông là Điểm Tựa Tinh Thần vững chắc của các thế hệ hôm nay

Những năm gần đây, Đại tướng Lê Đức Anh tuy tuổi đã rất cao, sức khỏe đã giảm, lại đã kinh qua hai lần tai biến xuất huyết não, nhưng đầu óc vẫn sáng suốt, tư duy mẫn tuệ; đặc biệt, tình cảm và trách nhiệm với những vấn đề có tầm chiến lược thuộc lĩnh vực an ninh - quốc phòng ở trong ông vẫn nguyên vẹn, đầy đặn và sắc sảo.

Xin lược kể đôi ví dụ nho nhỏ mà người viết bài này được trực tiếp diện kiến:

Dịp Tổng thống Mỹ Bush huy động quân đội nhiều nước tập trung đánh Cộng hòa Irak. Tổng thống Irak Hussein phát động cuộc “Thánh chiến” và lớn tiếng tuyên bố: “Quân đội Mỹ và các nước sẽ lâm vào thiên la địa võng; Bagdad sẽ là mồ chôn giành cho họ!”.

 Ngày 2/2/2015, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười cùng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đến dự lễ kỷ niệm 85 năm thành lập Đảng tại Hà Nội. Ảnh: Thủy Ngọc

Ngày 2/2/2015, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười cùng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đến dự lễ kỷ niệm 85 năm thành lập Đảng tại Hà Nội. Ảnh: Thủy Ngọc

Buổi sáng đó, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên phi xe đến với Đại tướng:

“Thưa Bác! Hẳn Bác theo dõi tin tức đã thấy, cuộc tiến công của ông Bush đã sang ngày thứ ba. Các mũi tiến công đã áp sát thủ đô Bagdad.

Rất nhiều nước trên thế giới đã lên tiếng. ở nước ta, sinh viên một số trường đại học đã tự phát các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh.

Dư luận quần chúng nhân dân đang đòi hỏi Chính phủ lên tiếng chính thức. Thực lòng với Bác, Bộ Ngoại giao của con đang băn khoăn cân nhắc, nói thế nào cho nó “chuẩn” đây?! Con xin Bác chỉ dạy cho đôi lời.”…

Trầm ngâm chừng nửa phút, rồi Đại tướng nói rành rẽ: “Đối với một chính phủ lúc cần thì họ huy động dân ủng hộ.

Khi có chính quyền vững rồi thì quay lưng lại với quyền lợi của người dân như chính quyền của Saddam Hussein; một khi Mỹ đã quyết đánh thì chỉ trong vòng mươi mười lăm ngày, hoặc sẽ đầu hàng, hoặc sẽ tan rã, sụp đổ.

Nên chừ, bên Ngoại giao có ý định phát biểu thì hãy nói, chỉ hai ý thôi: - Việt Nam ủng hộ nguyện vọng hòa bình của nhân dân Irak. Việt Nam cũng sẵn sàng đóng góp giúp nhân dân Irak khôi phục đất nước sau chiến tranh nhưng thông qua tổ chức của Liên Hợp quốc!”.

Ngay chiều hôm đó, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức họp báo. Và quả nhiên, sau đó một tuần lễ, quân đội Irak tan rã, chính phủ Hussein tháo chay…

Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nguyên lãnh đạo tại lễ kỷ niệm ngày thành lập Đảng năm 2015. Ảnh: Thủy Ngọc
Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nguyên lãnh đạo tại lễ kỷ niệm ngày thành lập Đảng năm 2015. Ảnh: Thủy Ngọc

Vấn đề tiếp theo là “chuyện ứng xử Biển Đông DOC”. Lúc đó Đại tướng nói:

- Tôi nay tuổi cao, Đảng và Nhà nước đã cho nghỉ dưỡng già. Các chú đừng nói là tôi “tư vấn” hay “chỉ đạo” gì cho to tát. Hỏi thì tôi nói những suy nghĩ của mình chỉ xem như một lời tâm sự thôi.

Vừa rồi cái DOC do Trung Quốc và Philippines bàn soạn với nhau; ta bị động chạy theo sau. Rút kinh nghiệm, tới đây làm COC thì Việt Nam phải có mặt trong Ban soạn thảo ngay từ đầu.

Chưa có COC, chưa ký kết nhưng hàng ngày các nước vẫn phải “ứng xử” với nhau sao cho êm thấm và cùng có lợi. Vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của ta, ta tổ chức khai thác.

Nếu làm không xuể thì nơi ta mời hợp tác đầu tiên phải là Trung Quốc. Làm không xuể nữa thì mời trong khối ASEAN, rồi mới mời ra các nước khác.

Nhưng có một điều bên Ngoại giao phải luôn nhớ, là chừng nào ta chưa đòi lại được Hoàng Sa thì năm nào cũng phải nhắc lên, nói lên “Hoàng Sa là của Việt Nam!” ít nhất là vài lần.

Vì theo thông lệ quốc tế, họ đã lấy của mình mà 9 năm liền mình mần thinh, không nói gì, thì đảo đó nghiễm nhiên sẽ thuộc chủ quyền của họ.

Đại tướng Lê Đức Anh đã bước sang tuổi 95. Cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Ban, ngành, đoàn thể, các nhân sỹ và con cháu thấy sức khỏe của Đại tướng vẫn dẻo, mẫn tiệp, thì ai cũng yên lòng và mừng vui.

Bởi Đại tướng vừa là Nhân chứng Lịch sử, vừa là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho các lớp cán bộ lãnh đạo và cho mỗi người dân yêu Tổ quốc chúng ta!

Cuối tháng 7/1991, Đại tướng Lê Đức Anh được Bộ Chính trị cử làm phái viên sang Trung Quốc bàn bạc những vấn đề cụ thể việc bình thường hoá quan hệ hai nước. Cuộc hội đàm chính thức diễn ra tại Trung Nam Hải vào buổi chiều ngày 31/7/1991.

Xin trích, ghi ra đây một số đoạn trong lời phát biểu của hai Trưởng đoàn tại cuộc hội đàm này (Tài liệu lưu trữ tại Phòng Lưu trữ Văn phòng Chủ tịch nước):

Tổng bí thư Giang Trạch Dân: Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà.

Tháng 9 năm ngoái đồng chí Nguyễn Văn Linh, đồng chí Đỗ Mười đến làm việc ở Thành Đô, đồng chí Hồng Hà cũng có mặt.

Hôm nay được dịp quen biết đồng chí Lê Đức Anh, tôi rất phấn khởi. Đồng chí đã hội đàm rất tốt với đồng chí Kiều Thạch. Đồng chí Lý Bằng đã gặp đồng chí. 1 giờ sáng nay tôi mới ở địa phương về đến Bắc Kinh.

Hôm nay rất phấn khởi được gặp đồng chí. Theo tập quán của chúng tôi, xin mời đồng chí nói trước.

Đại tướng Lê Đức Anh: Tôi rất phấn khởi được gặp đồng chí Tổng bí thư. Tôi biết đồng chí rất bận nhưng vẫn giành thì giờ tiếp chúng tôi, chứng tỏ đồng chí rất quan tâm.

Rất cám ơn đồng chí! Tôi xin chuyển lời thăm hỏi và chúc sức khoẻ của đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười, các đồng chí Cố vấn Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công tới đồng chí và nhờ đồng chí chuyển lời thăm hỏi đó tới đồng chí Đặng Tiểu Bình, các đồng chí lãnh đạo khác của Trung Quốc.

Đảng chúng tôi cử hai đồng chí chúng tôi sang thăm và làm việc ở Trung Quốc. Chúng tôi rất phấn khởi thấy được thành tựu mười năm cải cách của các đồng chí. Điều đó cổ vũ rất lớn Đảng và nhân dân chúng tôi.

Về công việc, chúng tôi đã thông báo về Đại hội VII, đã kiểm điểm việc thực hiện những thoả thuận ở Thành Đô cả về Đảng và Nhà nước xem việc gì làm được, việc gì chưa làm được.

Tôi đã nêu tất cả với đồng chí Kiều Thạch. Hôm qua chúng tôi được đồng chí Lý Bằng tiếp và cho phương hướng giải quyết những vấn đề thuộc Nhà nước. Chúng tôi rất phấn khởi.

Hôm nay gặp đồng chí Tổng bí thư, xin đề nghị đồng chí Tổng bí thư cho ý kiến về những mong muốn của Đảng chúng tôi, về việc Đoàn cấp cao Đảng và Nhà nước chúng tôi do đồng chí Đỗ Mười dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc mở đầu trang sử mới trong quan hệ giữa hai Đảng, hai nước sau hơn mười năm trắc trở.

Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười, Bộ Chính trị và ba đồng chí Cố vấn mong rằng sự kiện đó sẽ được thực hiện trong năm 1991 này. Được như thế thì rất đáng phấn khởi không chỉ đối với lãnh đạo mà cả đối với toàn Đảng, toàn dân chúng tôi.

Từ nay đến khi có cuộc gặp cấp cao đó, đề nghị với đồng chí Tổng bí thư là các ban của hai Đảng gặp nhau trao đổi kinh nghiệm xây dựng Đảng, kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trước hết chúng tôi mời đoàn Ban Đối ngoại Trung ương Đảng của Trung Quốc sang làm việc với Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Việt Nam.

Chúng tôi đề nghị các đoàn thể, các Hội hữu nghị Việt-Trung và Trung-Việt trao đổi kinh nghiệm, tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Gặp đồng chí, tôi có mấy ý kiến như thế, mong đồng chí cho ý kiến.

Giang Trạch Dân: Hôm nay được gặp đồng chí, tôi bỗng nhớ lại ngày 3 và 4 tháng 9-1990, những ngày gặp đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười.

Sau cuộc gặp gỡ lần đó, đôi bên có nhiều cố gắng thực hiện thoả thuận ở Thành Đô.

Nhưng do tình hình thay đổi và vì rất nhiều lý do, rất nhiều nguyên nhân khác, chúng ta chưa làm được hết, nhưng phương hướng chung có tiến triển. Hôm qua tôi đã đọc thư đồng chí Đỗ Mười gửi cho chúng tôi.

Chúng ta là hai đảng cầm quyền. Hôm nay tôi xin nói thẳng thắn.

Sáng nay tôi gặp đồng chí Lý Bằng, đồng chí Kiều Thạch và nhiều đồng chí ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khác, chúng tôi đã bàn với nhau và chúng tôi hoan nghênh Đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Nhà nước Việt Nam do đồng chí Đỗ Mười dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc năm nay.

Tôi rất đồng ý với ý kiến đồng chí Lê Đức Anh, các cơ quan của hai Đảng, qua lại trao đổi ý kiến với nhau. Ban Đối ngoại Trung Quốc sang thăm Việt Nam trước. Hôm qua đồng chí Lý Bằng đã trao đổi ý kiến với các đồng chí rất tốt. ý kiến chúng ta nhất trí với nhau.

Vì chúng ta là những người cộng sản, tôi nói theo nhận thức, theo quan điểm của đảng chúng tôi. Tình hình thế giới bây giờ rất phức tạp. Tôi biết đồng chí Lê Đức Anh hiểu biết hơn tôi về quân sự.

Đồng chí là Bộ trưởng Quốc phòng, tôi là Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Đồng chí vào Trung ương làm việc ở Trung ương sớm hơn tôi.

Tôi nói thẳng thắn, tôi giữ chức Tổng bí thư từ ngày 24-6-1989, từ đó đến nay, tôi không ngờ tình hình Đông Âu biến động và Liên Xô rối ren đến như vậy.

Chúng ta là những người cộng sản, phải thực sự cầu thị. Hiện nay xã hội chủ nghĩa đang thoái trào.

Tình hình ngày nay khác tình hình khi nước chúng tôi giải phóng và khi nước các đồng chí được giải phóng. Nhưng chúng ta là những nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải khẳng định chủ nghĩa xã hội sẽ thắng lợi.

Đồng chí phải thấy đây là quá trình đấu tranh hết sức gian khổ. Cho nên chúng ta là hai nước láng giềng, hai đảng cộng sản cầm quyền, không có lí do gì không xây dựng quan hệ láng giềng hữu hảo với nhau.

Từ sự đột biến ở Đông Âu và qua 25 tháng tôi công tác ở Trung ương, tôi nhận thức được rằng kiên trì xã hội chủ nghĩa là rất quan trọng.

Các nước phương Tây lúc nào cũng muốn xoá chủ nghĩa xã hội khỏi trái đất này. Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhân dân Trung Quốc đánh đổ chính quyền Quốc Dân Đảng giành chính quyền.

Chúng tôi xây dựng đất nước, không bao lâu, chúng tôi phải chống Mỹ viện Triều, sau đó chúng tôi cũng tham gia cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của các đồng chí.

Cho nên phương Tây, nhất là Mỹ qua hai lần đọ sức bằng phương thức chiến tranh, chúng không xóa được chủ nghĩa xã hội của chúng ta.

Bọn chúng dùng biện pháp "diễn biến hoà bình" của Ngoại trưởng Mỹ Đa-lét, để đối phó với chủ nghĩa xã hội, đối phó với bức màn sắt- như Nixơn đã viết cuốn "Không đánh mà thắng".

Cả Nixơn và Brêdinxki đều nhận định: Chủ nghĩa cộng sản- Chủ nghĩa xã hội sẽ bị tiêu diệt trên trái đất này. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời.

Năm 1985 Nixơn đi Đông Âu. Sau khi về Nixơn dự đoán không bao lâu nữa Đông Âu sẽ có thay đổi lớn. Tình hình không may đã diễn ra đúng như Nixơn dự đoán.

Tháng 5-1991, trước khi tôi đi Liên Xô, Nixơn vừa đến Liên Xô trước đó 2 tuần. Thái độ của các nước phương Tây đối với việc viện trợ cho Liên Xô khác nhau.

Đức, Pháp giữ lợi ích của Châu Âu. Mỹ, Nhật thái độ rất rõ ràng- Nixơn nói "Liên Xô phải triệt để đầu hàng, hạ vũ khí, phải quá độ sang tư bản chủ nghĩa bằng con đường hoà bình thì mới viện trợ, nếu không thì không viện trợ.

Đối với âm mưu lật đổ, chúng có pháp bảo: Dùng chế độ đa đảng để lật đổ Đảng".

Chúng tôi rất cảnh giác chế độ đa đảng. Về mặt này chúng tôi kiên quyết chống hoạt động đa đảng. Quả thật như thế, En-xin vừa lên Tổng thống Cộng hoà Liên bang Nga liền thủ tiêu các cơ sở đảng ở cơ quan, xí nghiệp.

En-xin đã từng là ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Đảng cộng sản Liên Xô. Nghe tin này như người Trung Quốc nói "Xúc mục kinh tâm"- Những điều trông thấy khiến ta giật mình.

Hiện nay các nước phương Tây muốn dùng chiêu bài dân chủ, tự do, nhân quyền để thực hiện diễn biến hoà bình. Mỗi năm chúng tôi triệu tập đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc một lần.

Tôi đã dự hội nghị đó hai lần. Quan điểm của tôi là, Đại hội đại biểu nhân dân là của dân, không đi theo con đường nghị viện kiểu phương Tây. Chúng tôi cũng có 8 đảng nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không cho phép đảng đối lập.

Chúng tôi có tổ chức Hiệp thương chính trị, các đảng hợp tác với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Những đại biểu Quốc hội toàn quốc, phát biểu ở Quốc hội, anh không phải với tư cách nghị sỹ, với tư cách thay mặt một đảng nào khác mà là tư cách đại biểu của nhân dân.

Sau khi giải phóng đất nước, ở chúng tôi xuất hiện Đảng Dân chủ, họ đòi luân phiên tham gia nắm quyền với Đảng chúng tôi.

Về mặt này Mao Chủ tịch rất nhạy bén. Người đã phát động cuộc đấu tranh chống phái hữu. Phương hướng là đúng nhưng trong đấu tranh thiếu sót ở chỗ đã mở rộng quá mức.

Chúng tôi bây giờ hết sức cảnh giác với tư tưởng luân phiên nắm chính quyền. Điều đó đáng sợ không phải là có tồn tại hay không tồn tại vấn đề đó mà là ở chỗ đảng có kiên quyết chống tư tưởng đó, có cảnh giác với âm mưu đó hay không. Nếu biết cảnh giác, có biện pháp, không sợ gì cả...

Đồng chí Chu Sỹ Lương (Trưởng ban Đối ngoại) đã từng hoạt động ở Thượng Hải đã thấy cảnh Quốc Dân Đảng cưỡi ngựa đàn áp thanh niên học sinh và những người cộng sản. Tôi nhớ rất rõ cảnh đó.

Điều thứ hai tôi nhận thức được đó là quân đội nhân dân phải tuyệt đối đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quân đội là cây súng, hình thái ý thức là cây bút. Với tư cách quân đội, đồng chí Lê Đức Anh lâu năm hơn tôi.

Tôi làm nghề nào mới học nghề ấy. Tôi vừa đi hơn 20 tỉnh và thành phố trong tổng số 30 tỉnh thành. Tôi đã đi 18 quân khu. Trước đây tôi chưa được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Sau khi được bầu tôi thường xuyên đi thăm các quân khu. Đồng chí Lê Đức Anh hiểu tầm quan trọng của cây súng hơn tôi.

Cây bút cũng rất quan trọng. Về tuyên truyền quả thật phải không ngừng cải tiến phương pháp tuyên truyền. Mục đích của tuyên truyền là đi sâu vào lòng người.

Nếu ta chỉ theo cách cũ cứng nhắc không được. Tuyên truyền phải sống động, hoạt bát, không thế sẽ không có kết quả tốt. Về phương thức, về công tác tư tưởng, phải tính đến sự phát triển của khoa học kỹ thuật.

Ti vi hết sức quan trọng. Hiện nay ti vi rất phổ biến ở thành phố. Hàng ngày dân chúng cứ nghe, nhìn, rồi qua tai, mắt, nếu chúng ta không có năng lực phân tích sẽ hấp thụ những điều dở.

Mao Chủ tịch đã nói: Nếu tư tưởng vô sản không chiếm lĩnh, tư tưởng tư sản sẽ chiếm lĩnh.

Chúng tôi tiến hành "Tảo hoàng" (quét sạch những văn hóa đồi trụy), chúng tôi kiên quyết làm. Phải chống lại những văn hoá màu vàng. Trừ hủ bại. Đứng về ý nghĩa chính trị, việc quét này không thành vấn đề gì. Việc này ở phương Tây cũng không thể không chống.

Đĩ điếm, cờ bạc, ma túy họ cũng phải chống. Tôi đã nói với phương Tây, với Nixơn tôi đã tiêu diệt những điều đó và đó là niềm tự hào của chúng tôi. Nay với đồng chí tôi nói thật, vẫn còn tồn tại những cái đó ở Trung Quốc, nhưng chúng tôi có thái độ kiên quyết chống nó, bài trừ nó.

Chúng ta kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản. Chống tư sản không chỉ chống văn hoá màu vàng.

Phải chống cả tự do hoá tư sản. Đứng về góc độ phiên dịch chắc khó dịch diễn đạt hết hàm ý của nội dung này.

Nội dung chống này bao gồm việc chống lại tất cả những tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội, chống những sự thối tha đồi trụy của tư sản.

Còn đối với những kỹ thuật tiên tiến, cách quản lý khoa học, văn hoá ưu tú của tư sản chúng ta lại phải học tập.

Chúng tôi có chuyển hướng cải cách mở cửa, khuyến khích nước ngoài đầu tư nhưng phải tôn trọng pháp luật...

Trên tôi đã giới thiệu tóm tắt nhận thức của cá nhân tôi. Tôi tin rằng chuyến đi thăm của đồng chí thúc đẩy việc tiến tới bình thường hoá quan hệ hai đảng, hai nước.

Qua đồng chí xin gửi lời thăm tốt đẹp tới đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười, các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng và các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tuy rằng đồng chí Nguyễn Văn Linh làm cố vấn nhưng đồng chí đó đã để lại ấn tượng sâu sắc cho chúng tôi.

Chúng ta còn dịp vừa ăn cơm vừa nói chuyện (Đồng chí Giang Trạch Dân liền đọc một câu thơ rồi nói tiếp):

Tôi rất phấn khởi được gặp đồng chí. Hôm nay là bước mở đầu tốt đẹp của chúng ta.

Cuộc đàm đạo được nối tiếp trong buổi chiêu đãi ngay tối hôm đó, 31-7-1991 cũng tại Trung Nam Hải.

Giang Trạch Dân: ...Chúng ta đang đứng trước những vấn đề phức tạp hơn khi đất nước mới giải phóng. Khả năng lãnh đạo của từng cá nhân thế hệ cũ lớn hơn những người mới.

Chúng tôi phải dựa vào các đồng chí cũ. Lãnh đạo hành chính điều quan trọng là phải dựa vào sự nhất trí. Trung Quốc có câu "Ba anh thợ da bằng một Gia Cát Lượng". Tôi cũng nhớ một câu nói nổi tiếng: "Sợ nhất lô cốt bị phá từ trong phá ra".

Năm nay xảy ra thiên tai lớn, nhiều năm chưa từng xảy ra nhưng chúng tôi tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng nhất định khắc phục được hậu quả. Chúng tôi vẫn lấy nông nghiệp làm cơ sở.

Nói thật với đồng chí, Trung Quốc giải phóng đã hơn 40 năm. Hễ cứ được mùa hai năm liền là lại coi nhẹ nông nghiệp. Mao Chủ tịch nói "Trong tay có lương thực, trong lòng không hoang mang", "Dân dĩ thực vi tiên".

Rất may, mấy năm liền Trung Quốc được mùa, dự trữ còn nhiều, không bị chấn động. Gặp thiên tai, chúng tôi không ngờ yếu tố tinh thần tốt như vậy.

Điều đó thể hiện nhân dân tin tưởng vào Đảng Cộng sản, vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

Vấn đề này không giải quyết tư tưởng bằng báo cáo, phải bằng thực tiễn hành động.

Nước lũ đến, Bí thư Đảng ủy xã đã đứng ra hàng đầu lo chống lũ, bà con rút đi hết, Bí thư là người rút cuối cùng. Những hành động thực tế đó lớn hơn nhiều lần báo cáo, hành động có sức thuyết phục lớn nhất.

Bây giờ trước tình hình Trung Quốc gặp thiên tai, bà con Hoa kiều, số người có gốc Hoa ở các nước và rất nhiều nước quan tâm, nhưng cũng có nước hí hửng về việc đó.

Bọn này tính toán chờ thời cơ hành động. Bọn này đã rút ra những bài học.

Dựa vào học sinh, sinh viên tạo phản 3 năm không thành. Nay muốn đột phá vào cơ quan Đảng, Chính phủ, Quân đội. Phu-xích viết trong "Dưới giá treo cổ" có một câu nói tôi mãi mãi không quên.

Phu-xích bị bọn phản bội bán rẻ, bị bắt và đã nói khi bị hành hình: "Nhân dân ơi! Tôi yêu nhân dân nhưng nhân dân đừng quên cảnh giác!" ý này rất hay, chúng ta phải luôn luôn cảnh giác.

Tôi hiểu rằng kinh nghiệm của đồng chí Lê Đức Anh rất phong phú. Các nước phương Tây bắt đầu tính toán đến vấn đề rất nghiêm trọng đối với chúng ta và vấn đề giáo dục thanh niên. Thanh niên dễ tiếp thu văn minh phương Tây.

Tiếp thu kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của phương Tây, chúng ta không phản đối.

Tôi thường xuyên có quan điểm tiếp thu những văn hoá ưu tú phương Tây. Nhưng phải làm cho thanh niên thấy nhân dân ta đã từng bị áp bức của các cường quốc...

Bắt đầu từ năm nay, chương trình giáo dục cấp 1 của chúng tôi có phần giáo dục tình hình đất nước, có phần lịch sử cận đại vì thế hệ chúng tôi sớm muộn cũng đi gặp Các Mác nên chính quyền sau này rơi vào tay ai không thể không suy nghĩ.

Tôi xin nói thẳng với đồng chí và nói nhiều vì lần đầu gặp đồng chí nhưng cảm thấy như người bạn lâu năm.

Lê Đức Anh: Khi ở chiến trường, tôi thấy rõ sự giúp đỡ của Trung Quốc. Tất nhiên có cả Liên Xô.

Nhưng sự giúp đỡ của Trung Quốc cụ thể, thiết thực: Súng B40, lương khô, mũ cối, thuốc xoa chống muỗi, chống vắt v.v… Trong chống Mỹ, cứu nước, các đồng chí đã viện trợ toàn diện cho Việt Nam.

Giang Trạch Dân: Đó là việc cần làm.

Lê Đức Anh: Bây giờ Trung Quốc hơn 1 tỷ dân, đang tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản, đó là viện trợ to lớn nhất, không thể đánh giá hết được.

Giang Trạch Dân: Tôi đã nghe thông báo về Đại hội VII. Thấy các đồng chí kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa , kiên trì chủ nghĩa Mác Lê-nin, tự đáy lòng tôi thấy rất phấn khởi.

Lê Đức Anh: Về quốc tế, đồng chí nói gọn đủ, tôi tiếp thu lập trường quan điểm của các đồng chí, điều đó làm tăng niềm tin ở tương lai xã hội chủ nghĩa đối với chúng tôi.

Trong thời điểm này, Trung Quốc đóng vai trò cực kỳ to lớn trước sự tồn vong, còn hay mất của chủ nghĩa xã hội, của phong trào độc lập dân tộc trên thế giới. Đó là nhận thức sâu sắc của chúng tôi.

Về phía Việt Nam chúng tôi kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa . Tất nhiên không cần lập mặt trận chống ai, nhưng Trung Quốc ổn định, vững, là niềm cổ vũ lớn cho phong trào cộng sản quốc tế.

Trở về Việt Nam. Ngày 3 tháng 8 năm 1991, tại cuộc họp Bộ Chính trị, sau khi tôi báo cáo kết quả chuyến đi Trung Quốc, các thành viên dự họp phát biểu sôi nổi và đồng nhất đánh giá chuyến đi đạt kết quả tốt và nhất trí mấy việc cần làm là:

- Thông báo về kết quả chuyến đi này với Liên Xô, Lào và Campuchia. (Trong đó có ý kiến của Cố vấn Phạm Văn Đồng: Không để các đồng chí Campuchia nghi ngờ mình, nghĩ mình mua bán với Trung Quốc trên lưng họ.

Có thể cho các đồng chí Campuchia biết cả biên bản, sòng phẳng; để các đồng chí Campuchia rõ chuyến đi chỉ có hai vấn đề:

Thông báo kết quả Đại hội VII và bàn bình thường hóa quan hệ, không có bàn kèm theo vấn đề Campuchia.

Để các đồng chí đó thấy rõ thắng lợi chuyến thăm Trung Quốc là thắng lợi chung của Việt Nam và Campuchia, góp phần giải quyết vấn đề Campuchia).

- Thông báo về chuyến đi trong nội bộ Đảng và báo cáo với Quốc hội.

- Triển khai các công việc cần thiết trước mắt, nhất là các cơ quan chức năng như Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương và Thủ tướng Chính phủ để xúc tiến các bước trong tiến trình thực hiện bình thường hoá quan hệ Việt-Trung.

- Giang Trạch Dân: Quan hệ quốc gia với quốc gia, chúng tôi theo 5 nguyên tắc chung sống hoà bình- mấu chốt nhất là không can thiệp vào nội bộ của nhau. Còn giải quyết quan hệ Đảng với Đảng- chúng tôi theo 4 nguyên tắc- mấu chốt cũng là không can thiệp vào nội bộ nhau.

Người ta ai cũng mong muốn người trong họ hàng của mình tốt lên. Láng giềng cũng muốn láng giềng của mình tốt hơn.

Như tôi đã nói đứng trước tình hình quốc tế hiện nay, xã hội chủ nghĩa đang thoái trào, những nhà nước do Đảng Cộng sản cầm quyền không còn bao nhiêu. Nên tự đáy lòng tôi hết sức tán thưởng đường lối Đại hội VII Việt Nam...

Đối với chúng ta phải kiên trì sự lãnh đạo của Đảng. Trong kinh tế, sở hữu nhiều thành phần nhưng phải lấy công hữu làm cơ sở.

Đó là những điều tâm huyết của tôi. Lần đầu tiên được gặp đồng chí, tôi rất thú vị, nói hết lời.

Lê Đức Anh: Lần đầu tiên gặp đồng chí Tổng bí thư Giang Trạch Dân, tôi thấy rất thân tình.

Những lời nói từ đáy lòng đồng chí nói ra được thể hiện cụ thể ở những nơi tôi đến tham quan: xã Tứ Quý Thanh, Công ty gang thép Thủ Đô …

Giang Trạch Dân: Đồng chí lớn tuổi hơn tôi, làm việc lâu năm hơn tôi, kinh nghiệm phong phú hơn tôi.

Lê Đức Anh: Chúng tôi ở nước nhỏ, tầm nhìn hẹp.

Giang Trạch Dân: Trung Quốc có câu nói "Con chim chích tuy nhỏ nhưng gan mật đều có". Tôi chủ trương bố trí cho cán bộ công tác ở cơ sở rồi mới điều lên trên, như vậy mới tốt.

Về quân sự, đối với tôi là ngoại ngạch. Bây giờ không phải tôi đi học bắn súng mà học xây dựng quân đội, xây dựng chiến lược của chúng tôi.

Chúng tôi phải xây dựng chiến lược phòng ngự vì không có ý xâm lược ai. Chúng tôi phải tăng cường xây dựng quốc phòng.

Bây giờ tình hình thế giới thay đổi nhanh. Có một điểm cần nghiên cứu về ý thức của Lênin: Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản dãy chết. Vì sao nó chưa chết? Nó rút kinh nghiệm.

Ta cũng phải tổng kết kinh nghiệm cách mạng thế giới. Làm sao phải xây dựng tốt nhà nước xã hội chủ nghĩa của mình. Nói thật với các đồng chí, cuộc cải cách mở cửa do đồng chí Đặng Tiểu Bình đề ra thu được nhiều thành tích to lớn, nhưng kinh tế vẫn còn kém.

Chúng tôi phải quyết tâm phát triển kinh tế, có phát triển mới có quyền phát triển. Có điều có thể khẳng định: Kinh tế phát triển, tài lực phong phú, chúng tôi cũng không xâm lược ai.

Phải ổn định chính trị mới phát triển kinh tế được. Chúng tôi muốn có hoà bình để làm tốt công tác kinh tế.

Nhưng điều đó hoàn toàn không phải do một mình chúng tôi quyết định được. Chúng tôi phải hết sức cố gắng.

Trời không chiều ý người nên chúng ta phải chuẩn bị đầy đủ mọi mặt, như thế tốt hơn chỉ nghĩ tới một mặt.

Tối hôm nay rất phấn khởi được làm quen với đồng chí, một lần lạ, lần sau quen. Chúc đồng chí một chuyến đi tốt đẹp (ông Giang dùng tiếng Pháp: "Bon voyage").

Cuộc gặp giữa Đại tướng Lê Đức Anh và ông Giang Trạch Dân
Cuộc gặp giữa Đại tướng Lê Đức Anh và ông Giang Trạch Dân

Cuối tháng 7/1991, Đại tướng Lê Đức Anh được Bộ Chính trị cử làm phái viên sang Trung Quốc bàn bạc những vấn đề cụ thể việc bình thường hoá quan hệ hai nước. Cuộc hội đàm chính thức diễn ra tại Trung Nam Hải vào buổi chiều ngày 31/7/1991.

Bài 1: Đại tướng Lê Đức Anh với vấn đề Trung Quốc và biển Đông

Bài 2: Dấu ấn Đại tướng với tuyến phòng thủ Trường Sa và cảng Cam Ranh

Nhìn lại nhiệm kỳ làm Bộ trưởng Quốc phòng của mình, Đại tướng Lê Đức Anh đã xúc tiến được mấy việc lớn:

Thăm dò và tiếp xúc mở luồng để lập lại quan hệ bình thường Việt-Trung, chấm dứt xung đột biên giới và 15 năm căng thẳng trong quan hệ giữa hai nước láng giềng vốn có truyền thống hữu nghị.

Điều chỉnh bố trí chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên phạm vi cả nước theo Đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng và Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh trong tình hình mới, tư duy mới của đất nước và quốc tế.

Giảm quân số thường trực và từ đó giảm gánh nặng ngân sách quốc phòng, góp phần tháo gỡ khó khăn ban đầu để nền kinh tế -xã hội có thêm điều kiện thoát ra khỏi khủng hoảng nghiêm trọng.

Củng cố thế bố trí bảo vệ quần đảo Trường Sa và giải quyết việc phi vũ khí hạt nhân ở bán đảo và quân cảng Cam Ranh và xúc tiến quan hệ để thu hồi Cam Ranh từ Liên bang Nga trước thời hạn của hiệp định.

Tuy nhiên hai việc sau (Trường Sa và Cam Ranh) còn kéo dài sang nhiệm kỳ Đại hội 7, tức là khi ông lên làm Chủ tịch nước thì mới xong hoàn toàn; nhưng ở nhiệm kỳ Bộ trưởng Quốc phòng đã làm được những phần rất cơ bản, sau đó chỉ là bước hoàn thiện mà thôi.

Thực chất khi làm việc, các vấn đề liên kết, ràng buộc, đan xen, chứ không mạch lạc từng phần từng việc như tôi kể ở trên đâu.

Tướng Anh thường tâm sự: “Đây là một bài toán cực kỳ khó, làm được mà trong nội bộ nhất trí cao là một thắng lợi, không nhất trí thì rất khó làm”.

Ngày 9/11/1993 tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh, Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân tổ chức lễ đón, chào mừng Chủ tịch nước Việt Nam Lê Đức Anh
Ngày 9/11/1993 tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh, Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân tổ chức lễ đón, chào mừng Chủ tịch nước Việt Nam Lê Đức Anh

Như vậy, trong nhiệm kỳ Đại hội 7 của Đảng ta; nhiệm kỳ mà tôi được trao trọng trách làm Chủ tịch nước, ở năm đầu nhiệm kỳ (1991) ta đã lập quan hệ bình thường với Trung Quốc, đến nửa cuối nhiệm kỳ, ta đã vận động và đấu tranh thắng lợi việc Mỹ xoá bao vây cấm vận và lập quan hệ bình thường với Việt Nam. Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN.

Nội địa có ổn định, thái bình, phên dậu biên ải có vững chãi thì dân và Nhà nước mới yên ổn làm ăn, kiến thiết tiến lên thịnh vượng.

Ý thức được điều này, cùng với việc xây dựng củng cố nội địa, tôi cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị rất chú tâm chỉ đạo công tác đối ngoại với các nước láng giềng để xây dựng, hoạch định đường biên giới trên bộ và việc phân định vùng biển và thềm lục địa trên tinh thần tích cực, kiên trì, tôn trọng luật pháp quốc tế, khi chưa thống nhất thì không làm phức tạp thêm tình hình để ảnh hưởng đến tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước.

Có nhiều việc, nhiều vấn đề nổi cộm, tôi đã nghiên cứu kỹ và chỉ đạo trực tiếp để các đồng chí bên Bộ Ngoại giao và Ban Biên giới Chính phủ nghiên cứu triển khai thực hiện; các đồng chí đó đã làm việc rất tốt, rất có hiệu quả…”.

Ông là Điểm Tựa Tinh Thần vững chắc của các thế hệ hôm nay

Những năm gần đây, Đại tướng Lê Đức Anh tuy tuổi đã rất cao, sức khỏe đã giảm, lại đã kinh qua hai lần tai biến xuất huyết não, nhưng đầu óc vẫn sáng suốt, tư duy mẫn tuệ; đặc biệt, tình cảm và trách nhiệm với những vấn đề có tầm chiến lược thuộc lĩnh vực an ninh - quốc phòng ở trong ông vẫn nguyên vẹn, đầy đặn và sắc sảo.

Xin lược kể đôi ví dụ nho nhỏ mà người viết bài này được trực tiếp diện kiến:

Dịp Tổng thống Mỹ Bush huy động quân đội nhiều nước tập trung đánh Cộng hòa Irak. Tổng thống Irak Hussein phát động cuộc “Thánh chiến” và lớn tiếng tuyên bố: “Quân đội Mỹ và các nước sẽ lâm vào thiên la địa võng; Bagdad sẽ là mồ chôn giành cho họ!”.

 Ngày 2/2/2015, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười cùng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đến dự lễ kỷ niệm 85 năm thành lập Đảng tại Hà Nội. Ảnh: Thủy Ngọc

Ngày 2/2/2015, nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười cùng nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh đến dự lễ kỷ niệm 85 năm thành lập Đảng tại Hà Nội. Ảnh: Thủy Ngọc

Buổi sáng đó, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên phi xe đến với Đại tướng:

“Thưa Bác! Hẳn Bác theo dõi tin tức đã thấy, cuộc tiến công của ông Bush đã sang ngày thứ ba. Các mũi tiến công đã áp sát thủ đô Bagdad.

Rất nhiều nước trên thế giới đã lên tiếng. ở nước ta, sinh viên một số trường đại học đã tự phát các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh.

Dư luận quần chúng nhân dân đang đòi hỏi Chính phủ lên tiếng chính thức. Thực lòng với Bác, Bộ Ngoại giao của con đang băn khoăn cân nhắc, nói thế nào cho nó “chuẩn” đây?! Con xin Bác chỉ dạy cho đôi lời.”…

Trầm ngâm chừng nửa phút, rồi Đại tướng nói rành rẽ: “Đối với một chính phủ lúc cần thì họ huy động dân ủng hộ.

Khi có chính quyền vững rồi thì quay lưng lại với quyền lợi của người dân như chính quyền của Saddam Hussein; một khi Mỹ đã quyết đánh thì chỉ trong vòng mươi mười lăm ngày, hoặc sẽ đầu hàng, hoặc sẽ tan rã, sụp đổ.

Nên chừ, bên Ngoại giao có ý định phát biểu thì hãy nói, chỉ hai ý thôi: - Việt Nam ủng hộ nguyện vọng hòa bình của nhân dân Irak. Việt Nam cũng sẵn sàng đóng góp giúp nhân dân Irak khôi phục đất nước sau chiến tranh nhưng thông qua tổ chức của Liên Hợp quốc!”.

Ngay chiều hôm đó, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức họp báo. Và quả nhiên, sau đó một tuần lễ, quân đội Irak tan rã, chính phủ Hussein tháo chay…

Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nguyên lãnh đạo tại lễ kỷ niệm ngày thành lập Đảng năm 2015. Ảnh: Thủy Ngọc
Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các nguyên lãnh đạo tại lễ kỷ niệm ngày thành lập Đảng năm 2015. Ảnh: Thủy Ngọc

Vấn đề tiếp theo là “chuyện ứng xử Biển Đông DOC”. Lúc đó Đại tướng nói:

- Tôi nay tuổi cao, Đảng và Nhà nước đã cho nghỉ dưỡng già. Các chú đừng nói là tôi “tư vấn” hay “chỉ đạo” gì cho to tát. Hỏi thì tôi nói những suy nghĩ của mình chỉ xem như một lời tâm sự thôi.

Vừa rồi cái DOC do Trung Quốc và Philippines bàn soạn với nhau; ta bị động chạy theo sau. Rút kinh nghiệm, tới đây làm COC thì Việt Nam phải có mặt trong Ban soạn thảo ngay từ đầu.

Chưa có COC, chưa ký kết nhưng hàng ngày các nước vẫn phải “ứng xử” với nhau sao cho êm thấm và cùng có lợi. Vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của ta, ta tổ chức khai thác.

Nếu làm không xuể thì nơi ta mời hợp tác đầu tiên phải là Trung Quốc. Làm không xuể nữa thì mời trong khối ASEAN, rồi mới mời ra các nước khác.

Nhưng có một điều bên Ngoại giao phải luôn nhớ, là chừng nào ta chưa đòi lại được Hoàng Sa thì năm nào cũng phải nhắc lên, nói lên “Hoàng Sa là của Việt Nam!” ít nhất là vài lần.

Vì theo thông lệ quốc tế, họ đã lấy của mình mà 9 năm liền mình mần thinh, không nói gì, thì đảo đó nghiễm nhiên sẽ thuộc chủ quyền của họ.

Đại tướng Lê Đức Anh đã bước sang tuổi 95. Cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các Ban, ngành, đoàn thể, các nhân sỹ và con cháu thấy sức khỏe của Đại tướng vẫn dẻo, mẫn tiệp, thì ai cũng yên lòng và mừng vui.

Bởi Đại tướng vừa là Nhân chứng Lịch sử, vừa là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho các lớp cán bộ lãnh đạo và cho mỗi người dân yêu Tổ quốc chúng ta!

Cuối tháng 7/1991, Đại tướng Lê Đức Anh được Bộ Chính trị cử làm phái viên sang Trung Quốc bàn bạc những vấn đề cụ thể việc bình thường hoá quan hệ hai nước. Cuộc hội đàm chính thức diễn ra tại Trung Nam Hải vào buổi chiều ngày 31/7/1991.

Xin trích, ghi ra đây một số đoạn trong lời phát biểu của hai Trưởng đoàn tại cuộc hội đàm này (Tài liệu lưu trữ tại Phòng Lưu trữ Văn phòng Chủ tịch nước):

Tổng bí thư Giang Trạch Dân: Tôi nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí Lê Đức Anh và đồng chí Hồng Hà.

Tháng 9 năm ngoái đồng chí Nguyễn Văn Linh, đồng chí Đỗ Mười đến làm việc ở Thành Đô, đồng chí Hồng Hà cũng có mặt.

Hôm nay được dịp quen biết đồng chí Lê Đức Anh, tôi rất phấn khởi. Đồng chí đã hội đàm rất tốt với đồng chí Kiều Thạch. Đồng chí Lý Bằng đã gặp đồng chí. 1 giờ sáng nay tôi mới ở địa phương về đến Bắc Kinh.

Hôm nay rất phấn khởi được gặp đồng chí. Theo tập quán của chúng tôi, xin mời đồng chí nói trước.

Đại tướng Lê Đức Anh: Tôi rất phấn khởi được gặp đồng chí Tổng bí thư. Tôi biết đồng chí rất bận nhưng vẫn giành thì giờ tiếp chúng tôi, chứng tỏ đồng chí rất quan tâm.

Rất cám ơn đồng chí! Tôi xin chuyển lời thăm hỏi và chúc sức khoẻ của đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười, các đồng chí Cố vấn Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công tới đồng chí và nhờ đồng chí chuyển lời thăm hỏi đó tới đồng chí Đặng Tiểu Bình, các đồng chí lãnh đạo khác của Trung Quốc.

Đảng chúng tôi cử hai đồng chí chúng tôi sang thăm và làm việc ở Trung Quốc. Chúng tôi rất phấn khởi thấy được thành tựu mười năm cải cách của các đồng chí. Điều đó cổ vũ rất lớn Đảng và nhân dân chúng tôi.

Về công việc, chúng tôi đã thông báo về Đại hội VII, đã kiểm điểm việc thực hiện những thoả thuận ở Thành Đô cả về Đảng và Nhà nước xem việc gì làm được, việc gì chưa làm được.

Tôi đã nêu tất cả với đồng chí Kiều Thạch. Hôm qua chúng tôi được đồng chí Lý Bằng tiếp và cho phương hướng giải quyết những vấn đề thuộc Nhà nước. Chúng tôi rất phấn khởi.

Hôm nay gặp đồng chí Tổng bí thư, xin đề nghị đồng chí Tổng bí thư cho ý kiến về những mong muốn của Đảng chúng tôi, về việc Đoàn cấp cao Đảng và Nhà nước chúng tôi do đồng chí Đỗ Mười dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc mở đầu trang sử mới trong quan hệ giữa hai Đảng, hai nước sau hơn mười năm trắc trở.

Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười, Bộ Chính trị và ba đồng chí Cố vấn mong rằng sự kiện đó sẽ được thực hiện trong năm 1991 này. Được như thế thì rất đáng phấn khởi không chỉ đối với lãnh đạo mà cả đối với toàn Đảng, toàn dân chúng tôi.

Từ nay đến khi có cuộc gặp cấp cao đó, đề nghị với đồng chí Tổng bí thư là các ban của hai Đảng gặp nhau trao đổi kinh nghiệm xây dựng Đảng, kinh nghiệm lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trước hết chúng tôi mời đoàn Ban Đối ngoại Trung ương Đảng của Trung Quốc sang làm việc với Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Việt Nam.

Chúng tôi đề nghị các đoàn thể, các Hội hữu nghị Việt-Trung và Trung-Việt trao đổi kinh nghiệm, tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Gặp đồng chí, tôi có mấy ý kiến như thế, mong đồng chí cho ý kiến.

Giang Trạch Dân: Hôm nay được gặp đồng chí, tôi bỗng nhớ lại ngày 3 và 4 tháng 9-1990, những ngày gặp đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười.

Sau cuộc gặp gỡ lần đó, đôi bên có nhiều cố gắng thực hiện thoả thuận ở Thành Đô.

Nhưng do tình hình thay đổi và vì rất nhiều lý do, rất nhiều nguyên nhân khác, chúng ta chưa làm được hết, nhưng phương hướng chung có tiến triển. Hôm qua tôi đã đọc thư đồng chí Đỗ Mười gửi cho chúng tôi.

Chúng ta là hai đảng cầm quyền. Hôm nay tôi xin nói thẳng thắn.

Sáng nay tôi gặp đồng chí Lý Bằng, đồng chí Kiều Thạch và nhiều đồng chí ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khác, chúng tôi đã bàn với nhau và chúng tôi hoan nghênh Đoàn đại biểu cấp cao Đảng và Nhà nước Việt Nam do đồng chí Đỗ Mười dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc năm nay.

Tôi rất đồng ý với ý kiến đồng chí Lê Đức Anh, các cơ quan của hai Đảng, qua lại trao đổi ý kiến với nhau. Ban Đối ngoại Trung Quốc sang thăm Việt Nam trước. Hôm qua đồng chí Lý Bằng đã trao đổi ý kiến với các đồng chí rất tốt. ý kiến chúng ta nhất trí với nhau.

Vì chúng ta là những người cộng sản, tôi nói theo nhận thức, theo quan điểm của đảng chúng tôi. Tình hình thế giới bây giờ rất phức tạp. Tôi biết đồng chí Lê Đức Anh hiểu biết hơn tôi về quân sự.

Đồng chí là Bộ trưởng Quốc phòng, tôi là Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Đồng chí vào Trung ương làm việc ở Trung ương sớm hơn tôi.

Tôi nói thẳng thắn, tôi giữ chức Tổng bí thư từ ngày 24-6-1989, từ đó đến nay, tôi không ngờ tình hình Đông Âu biến động và Liên Xô rối ren đến như vậy.

Chúng ta là những người cộng sản, phải thực sự cầu thị. Hiện nay xã hội chủ nghĩa đang thoái trào.

Tình hình ngày nay khác tình hình khi nước chúng tôi giải phóng và khi nước các đồng chí được giải phóng. Nhưng chúng ta là những nước xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải khẳng định chủ nghĩa xã hội sẽ thắng lợi.

Đồng chí phải thấy đây là quá trình đấu tranh hết sức gian khổ. Cho nên chúng ta là hai nước láng giềng, hai đảng cộng sản cầm quyền, không có lí do gì không xây dựng quan hệ láng giềng hữu hảo với nhau.

Từ sự đột biến ở Đông Âu và qua 25 tháng tôi công tác ở Trung ương, tôi nhận thức được rằng kiên trì xã hội chủ nghĩa là rất quan trọng.

Các nước phương Tây lúc nào cũng muốn xoá chủ nghĩa xã hội khỏi trái đất này. Đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo nhân dân Trung Quốc đánh đổ chính quyền Quốc Dân Đảng giành chính quyền.

Chúng tôi xây dựng đất nước, không bao lâu, chúng tôi phải chống Mỹ viện Triều, sau đó chúng tôi cũng tham gia cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước của các đồng chí.

Cho nên phương Tây, nhất là Mỹ qua hai lần đọ sức bằng phương thức chiến tranh, chúng không xóa được chủ nghĩa xã hội của chúng ta.

Bọn chúng dùng biện pháp "diễn biến hoà bình" của Ngoại trưởng Mỹ Đa-lét, để đối phó với chủ nghĩa xã hội, đối phó với bức màn sắt- như Nixơn đã viết cuốn "Không đánh mà thắng".

Cả Nixơn và Brêdinxki đều nhận định: Chủ nghĩa cộng sản- Chủ nghĩa xã hội sẽ bị tiêu diệt trên trái đất này. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời.

Năm 1985 Nixơn đi Đông Âu. Sau khi về Nixơn dự đoán không bao lâu nữa Đông Âu sẽ có thay đổi lớn. Tình hình không may đã diễn ra đúng như Nixơn dự đoán.

Tháng 5-1991, trước khi tôi đi Liên Xô, Nixơn vừa đến Liên Xô trước đó 2 tuần. Thái độ của các nước phương Tây đối với việc viện trợ cho Liên Xô khác nhau.

Đức, Pháp giữ lợi ích của Châu Âu. Mỹ, Nhật thái độ rất rõ ràng- Nixơn nói "Liên Xô phải triệt để đầu hàng, hạ vũ khí, phải quá độ sang tư bản chủ nghĩa bằng con đường hoà bình thì mới viện trợ, nếu không thì không viện trợ.

Đối với âm mưu lật đổ, chúng có pháp bảo: Dùng chế độ đa đảng để lật đổ Đảng".

Chúng tôi rất cảnh giác chế độ đa đảng. Về mặt này chúng tôi kiên quyết chống hoạt động đa đảng. Quả thật như thế, En-xin vừa lên Tổng thống Cộng hoà Liên bang Nga liền thủ tiêu các cơ sở đảng ở cơ quan, xí nghiệp.

En-xin đã từng là ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Đảng cộng sản Liên Xô. Nghe tin này như người Trung Quốc nói "Xúc mục kinh tâm"- Những điều trông thấy khiến ta giật mình.

Hiện nay các nước phương Tây muốn dùng chiêu bài dân chủ, tự do, nhân quyền để thực hiện diễn biến hoà bình. Mỗi năm chúng tôi triệu tập đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc một lần.

Tôi đã dự hội nghị đó hai lần. Quan điểm của tôi là, Đại hội đại biểu nhân dân là của dân, không đi theo con đường nghị viện kiểu phương Tây. Chúng tôi cũng có 8 đảng nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không cho phép đảng đối lập.

Chúng tôi có tổ chức Hiệp thương chính trị, các đảng hợp tác với nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.

Những đại biểu Quốc hội toàn quốc, phát biểu ở Quốc hội, anh không phải với tư cách nghị sỹ, với tư cách thay mặt một đảng nào khác mà là tư cách đại biểu của nhân dân.

Sau khi giải phóng đất nước, ở chúng tôi xuất hiện Đảng Dân chủ, họ đòi luân phiên tham gia nắm quyền với Đảng chúng tôi.

Về mặt này Mao Chủ tịch rất nhạy bén. Người đã phát động cuộc đấu tranh chống phái hữu. Phương hướng là đúng nhưng trong đấu tranh thiếu sót ở chỗ đã mở rộng quá mức.

Chúng tôi bây giờ hết sức cảnh giác với tư tưởng luân phiên nắm chính quyền. Điều đó đáng sợ không phải là có tồn tại hay không tồn tại vấn đề đó mà là ở chỗ đảng có kiên quyết chống tư tưởng đó, có cảnh giác với âm mưu đó hay không. Nếu biết cảnh giác, có biện pháp, không sợ gì cả...

Đồng chí Chu Sỹ Lương (Trưởng ban Đối ngoại) đã từng hoạt động ở Thượng Hải đã thấy cảnh Quốc Dân Đảng cưỡi ngựa đàn áp thanh niên học sinh và những người cộng sản. Tôi nhớ rất rõ cảnh đó.

Điều thứ hai tôi nhận thức được đó là quân đội nhân dân phải tuyệt đối đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quân đội là cây súng, hình thái ý thức là cây bút. Với tư cách quân đội, đồng chí Lê Đức Anh lâu năm hơn tôi.

Tôi làm nghề nào mới học nghề ấy. Tôi vừa đi hơn 20 tỉnh và thành phố trong tổng số 30 tỉnh thành. Tôi đã đi 18 quân khu. Trước đây tôi chưa được bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Sau khi được bầu tôi thường xuyên đi thăm các quân khu. Đồng chí Lê Đức Anh hiểu tầm quan trọng của cây súng hơn tôi.

Cây bút cũng rất quan trọng. Về tuyên truyền quả thật phải không ngừng cải tiến phương pháp tuyên truyền. Mục đích của tuyên truyền là đi sâu vào lòng người.

Nếu ta chỉ theo cách cũ cứng nhắc không được. Tuyên truyền phải sống động, hoạt bát, không thế sẽ không có kết quả tốt. Về phương thức, về công tác tư tưởng, phải tính đến sự phát triển của khoa học kỹ thuật.

Ti vi hết sức quan trọng. Hiện nay ti vi rất phổ biến ở thành phố. Hàng ngày dân chúng cứ nghe, nhìn, rồi qua tai, mắt, nếu chúng ta không có năng lực phân tích sẽ hấp thụ những điều dở.

Mao Chủ tịch đã nói: Nếu tư tưởng vô sản không chiếm lĩnh, tư tưởng tư sản sẽ chiếm lĩnh.

Chúng tôi tiến hành "Tảo hoàng" (quét sạch những văn hóa đồi trụy), chúng tôi kiên quyết làm. Phải chống lại những văn hoá màu vàng. Trừ hủ bại. Đứng về ý nghĩa chính trị, việc quét này không thành vấn đề gì. Việc này ở phương Tây cũng không thể không chống.

Đĩ điếm, cờ bạc, ma túy họ cũng phải chống. Tôi đã nói với phương Tây, với Nixơn tôi đã tiêu diệt những điều đó và đó là niềm tự hào của chúng tôi. Nay với đồng chí tôi nói thật, vẫn còn tồn tại những cái đó ở Trung Quốc, nhưng chúng tôi có thái độ kiên quyết chống nó, bài trừ nó.

Chúng ta kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản. Chống tư sản không chỉ chống văn hoá màu vàng.

Phải chống cả tự do hoá tư sản. Đứng về góc độ phiên dịch chắc khó dịch diễn đạt hết hàm ý của nội dung này.

Nội dung chống này bao gồm việc chống lại tất cả những tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội, chống những sự thối tha đồi trụy của tư sản.

Còn đối với những kỹ thuật tiên tiến, cách quản lý khoa học, văn hoá ưu tú của tư sản chúng ta lại phải học tập.

Chúng tôi có chuyển hướng cải cách mở cửa, khuyến khích nước ngoài đầu tư nhưng phải tôn trọng pháp luật...

Trên tôi đã giới thiệu tóm tắt nhận thức của cá nhân tôi. Tôi tin rằng chuyến đi thăm của đồng chí thúc đẩy việc tiến tới bình thường hoá quan hệ hai đảng, hai nước.

Qua đồng chí xin gửi lời thăm tốt đẹp tới đồng chí Tổng bí thư Đỗ Mười, các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng và các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tuy rằng đồng chí Nguyễn Văn Linh làm cố vấn nhưng đồng chí đó đã để lại ấn tượng sâu sắc cho chúng tôi.

Chúng ta còn dịp vừa ăn cơm vừa nói chuyện (Đồng chí Giang Trạch Dân liền đọc một câu thơ rồi nói tiếp):

Tôi rất phấn khởi được gặp đồng chí. Hôm nay là bước mở đầu tốt đẹp của chúng ta.

Cuộc đàm đạo được nối tiếp trong buổi chiêu đãi ngay tối hôm đó, 31-7-1991 cũng tại Trung Nam Hải.

Giang Trạch Dân: ...Chúng ta đang đứng trước những vấn đề phức tạp hơn khi đất nước mới giải phóng. Khả năng lãnh đạo của từng cá nhân thế hệ cũ lớn hơn những người mới.

Chúng tôi phải dựa vào các đồng chí cũ. Lãnh đạo hành chính điều quan trọng là phải dựa vào sự nhất trí. Trung Quốc có câu "Ba anh thợ da bằng một Gia Cát Lượng". Tôi cũng nhớ một câu nói nổi tiếng: "Sợ nhất lô cốt bị phá từ trong phá ra".

Năm nay xảy ra thiên tai lớn, nhiều năm chưa từng xảy ra nhưng chúng tôi tin tưởng dưới sự lãnh đạo của Đảng nhất định khắc phục được hậu quả. Chúng tôi vẫn lấy nông nghiệp làm cơ sở.

Nói thật với đồng chí, Trung Quốc giải phóng đã hơn 40 năm. Hễ cứ được mùa hai năm liền là lại coi nhẹ nông nghiệp. Mao Chủ tịch nói "Trong tay có lương thực, trong lòng không hoang mang", "Dân dĩ thực vi tiên".

Rất may, mấy năm liền Trung Quốc được mùa, dự trữ còn nhiều, không bị chấn động. Gặp thiên tai, chúng tôi không ngờ yếu tố tinh thần tốt như vậy.

Điều đó thể hiện nhân dân tin tưởng vào Đảng Cộng sản, vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

Vấn đề này không giải quyết tư tưởng bằng báo cáo, phải bằng thực tiễn hành động.

Nước lũ đến, Bí thư Đảng ủy xã đã đứng ra hàng đầu lo chống lũ, bà con rút đi hết, Bí thư là người rút cuối cùng. Những hành động thực tế đó lớn hơn nhiều lần báo cáo, hành động có sức thuyết phục lớn nhất.

Bây giờ trước tình hình Trung Quốc gặp thiên tai, bà con Hoa kiều, số người có gốc Hoa ở các nước và rất nhiều nước quan tâm, nhưng cũng có nước hí hửng về việc đó.

Bọn này tính toán chờ thời cơ hành động. Bọn này đã rút ra những bài học.

Dựa vào học sinh, sinh viên tạo phản 3 năm không thành. Nay muốn đột phá vào cơ quan Đảng, Chính phủ, Quân đội. Phu-xích viết trong "Dưới giá treo cổ" có một câu nói tôi mãi mãi không quên.

Phu-xích bị bọn phản bội bán rẻ, bị bắt và đã nói khi bị hành hình: "Nhân dân ơi! Tôi yêu nhân dân nhưng nhân dân đừng quên cảnh giác!" ý này rất hay, chúng ta phải luôn luôn cảnh giác.

Tôi hiểu rằng kinh nghiệm của đồng chí Lê Đức Anh rất phong phú. Các nước phương Tây bắt đầu tính toán đến vấn đề rất nghiêm trọng đối với chúng ta và vấn đề giáo dục thanh niên. Thanh niên dễ tiếp thu văn minh phương Tây.

Tiếp thu kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của phương Tây, chúng ta không phản đối.

Tôi thường xuyên có quan điểm tiếp thu những văn hoá ưu tú phương Tây. Nhưng phải làm cho thanh niên thấy nhân dân ta đã từng bị áp bức của các cường quốc...

Bắt đầu từ năm nay, chương trình giáo dục cấp 1 của chúng tôi có phần giáo dục tình hình đất nước, có phần lịch sử cận đại vì thế hệ chúng tôi sớm muộn cũng đi gặp Các Mác nên chính quyền sau này rơi vào tay ai không thể không suy nghĩ.

Tôi xin nói thẳng với đồng chí và nói nhiều vì lần đầu gặp đồng chí nhưng cảm thấy như người bạn lâu năm.

Lê Đức Anh: Khi ở chiến trường, tôi thấy rõ sự giúp đỡ của Trung Quốc. Tất nhiên có cả Liên Xô.

Nhưng sự giúp đỡ của Trung Quốc cụ thể, thiết thực: Súng B40, lương khô, mũ cối, thuốc xoa chống muỗi, chống vắt v.v… Trong chống Mỹ, cứu nước, các đồng chí đã viện trợ toàn diện cho Việt Nam.

Giang Trạch Dân: Đó là việc cần làm.

Lê Đức Anh: Bây giờ Trung Quốc hơn 1 tỷ dân, đang tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản, đó là viện trợ to lớn nhất, không thể đánh giá hết được.

Giang Trạch Dân: Tôi đã nghe thông báo về Đại hội VII. Thấy các đồng chí kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa , kiên trì chủ nghĩa Mác Lê-nin, tự đáy lòng tôi thấy rất phấn khởi.

Lê Đức Anh: Về quốc tế, đồng chí nói gọn đủ, tôi tiếp thu lập trường quan điểm của các đồng chí, điều đó làm tăng niềm tin ở tương lai xã hội chủ nghĩa đối với chúng tôi.

Trong thời điểm này, Trung Quốc đóng vai trò cực kỳ to lớn trước sự tồn vong, còn hay mất của chủ nghĩa xã hội, của phong trào độc lập dân tộc trên thế giới. Đó là nhận thức sâu sắc của chúng tôi.

Về phía Việt Nam chúng tôi kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa . Tất nhiên không cần lập mặt trận chống ai, nhưng Trung Quốc ổn định, vững, là niềm cổ vũ lớn cho phong trào cộng sản quốc tế.

Trở về Việt Nam. Ngày 3 tháng 8 năm 1991, tại cuộc họp Bộ Chính trị, sau khi tôi báo cáo kết quả chuyến đi Trung Quốc, các thành viên dự họp phát biểu sôi nổi và đồng nhất đánh giá chuyến đi đạt kết quả tốt và nhất trí mấy việc cần làm là:

- Thông báo về kết quả chuyến đi này với Liên Xô, Lào và Campuchia. (Trong đó có ý kiến của Cố vấn Phạm Văn Đồng: Không để các đồng chí Campuchia nghi ngờ mình, nghĩ mình mua bán với Trung Quốc trên lưng họ.

Có thể cho các đồng chí Campuchia biết cả biên bản, sòng phẳng; để các đồng chí Campuchia rõ chuyến đi chỉ có hai vấn đề:

Thông báo kết quả Đại hội VII và bàn bình thường hóa quan hệ, không có bàn kèm theo vấn đề Campuchia.

Để các đồng chí đó thấy rõ thắng lợi chuyến thăm Trung Quốc là thắng lợi chung của Việt Nam và Campuchia, góp phần giải quyết vấn đề Campuchia).

- Thông báo về chuyến đi trong nội bộ Đảng và báo cáo với Quốc hội.

- Triển khai các công việc cần thiết trước mắt, nhất là các cơ quan chức năng như Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương và Thủ tướng Chính phủ để xúc tiến các bước trong tiến trình thực hiện bình thường hoá quan hệ Việt-Trung.

- Giang Trạch Dân: Quan hệ quốc gia với quốc gia, chúng tôi theo 5 nguyên tắc chung sống hoà bình- mấu chốt nhất là không can thiệp vào nội bộ của nhau. Còn giải quyết quan hệ Đảng với Đảng- chúng tôi theo 4 nguyên tắc- mấu chốt cũng là không can thiệp vào nội bộ nhau.

Người ta ai cũng mong muốn người trong họ hàng của mình tốt lên. Láng giềng cũng muốn láng giềng của mình tốt hơn.

Như tôi đã nói đứng trước tình hình quốc tế hiện nay, xã hội chủ nghĩa đang thoái trào, những nhà nước do Đảng Cộng sản cầm quyền không còn bao nhiêu. Nên tự đáy lòng tôi hết sức tán thưởng đường lối Đại hội VII Việt Nam...

Đối với chúng ta phải kiên trì sự lãnh đạo của Đảng. Trong kinh tế, sở hữu nhiều thành phần nhưng phải lấy công hữu làm cơ sở.

Đó là những điều tâm huyết của tôi. Lần đầu tiên được gặp đồng chí, tôi rất thú vị, nói hết lời.

Lê Đức Anh: Lần đầu tiên gặp đồng chí Tổng bí thư Giang Trạch Dân, tôi thấy rất thân tình.

Những lời nói từ đáy lòng đồng chí nói ra được thể hiện cụ thể ở những nơi tôi đến tham quan: xã Tứ Quý Thanh, Công ty gang thép Thủ Đô …

Giang Trạch Dân: Đồng chí lớn tuổi hơn tôi, làm việc lâu năm hơn tôi, kinh nghiệm phong phú hơn tôi.

Lê Đức Anh: Chúng tôi ở nước nhỏ, tầm nhìn hẹp.

Giang Trạch Dân: Trung Quốc có câu nói "Con chim chích tuy nhỏ nhưng gan mật đều có". Tôi chủ trương bố trí cho cán bộ công tác ở cơ sở rồi mới điều lên trên, như vậy mới tốt.

Về quân sự, đối với tôi là ngoại ngạch. Bây giờ không phải tôi đi học bắn súng mà học xây dựng quân đội, xây dựng chiến lược của chúng tôi.

Chúng tôi phải xây dựng chiến lược phòng ngự vì không có ý xâm lược ai. Chúng tôi phải tăng cường xây dựng quốc phòng.

Bây giờ tình hình thế giới thay đổi nhanh. Có một điểm cần nghiên cứu về ý thức của Lênin: Chủ nghĩa đế quốc là chủ nghĩa tư bản dãy chết. Vì sao nó chưa chết? Nó rút kinh nghiệm.

Ta cũng phải tổng kết kinh nghiệm cách mạng thế giới. Làm sao phải xây dựng tốt nhà nước xã hội chủ nghĩa của mình. Nói thật với các đồng chí, cuộc cải cách mở cửa do đồng chí Đặng Tiểu Bình đề ra thu được nhiều thành tích to lớn, nhưng kinh tế vẫn còn kém.

Chúng tôi phải quyết tâm phát triển kinh tế, có phát triển mới có quyền phát triển. Có điều có thể khẳng định: Kinh tế phát triển, tài lực phong phú, chúng tôi cũng không xâm lược ai.

Phải ổn định chính trị mới phát triển kinh tế được. Chúng tôi muốn có hoà bình để làm tốt công tác kinh tế.

Nhưng điều đó hoàn toàn không phải do một mình chúng tôi quyết định được. Chúng tôi phải hết sức cố gắng.

Trời không chiều ý người nên chúng ta phải chuẩn bị đầy đủ mọi mặt, như thế tốt hơn chỉ nghĩ tới một mặt.

Tối hôm nay rất phấn khởi được làm quen với đồng chí, một lần lạ, lần sau quen. Chúc đồng chí một chuyến đi tốt đẹp (ông Giang dùng tiếng Pháp: "Bon voyage").

Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2016

Hải quân Ukraine chỉ “tồn tại trên giấy”

Hải quân Ukraine chỉ “tồn tại trên giấy”
Hải quân Ukraine chỉ “tồn tại trên giấy”

Chính quyền Ukraine hiện không biết cần phải làm gì với lực lượng thủy thủ của các tàu chiến, còn trang bị của lực lượng hải quân Ukraine hiện đang trong tình trạng hết sức tồi tệ.

Hải quân Ukraine hiện vẫn đang tồn tại nhưng là “tồn tại trên giấy”.

Tuyên bố trên do Tỉnh trưởng Sevastopol Sergey Menhiailo, phó đô đốc dự bị và là cựu Phó Tư lệnh Hạm đội Biển Đen của Nga đưa ra.

Theo đó, lực lượng hạm đội Ukraine hiện nay chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của các chính trị gia Kiev. Chức năng và các hoạt động chiến thuật của lực lượng này hiện chỉ “tồn tại trên giấy”.

Trước tuyên bố này của tỉnh trưởng Sevastopol cũng đã có nhiều thông tin cho thấy tình trạng của lực lượng Hải quân Ukraine đang hết sức báo động.

Cụ thể, trong năm 2015, tổng cộng đã có 559 sỹ quan và binh sỹ từ bỏ hàng ngũ Hải quân Ukraine và chỉ có 122 người trong số này được tìm thấy, số còn lại chỉ hủy Hải quân Ukraine không công bố thông tin.

Ngoài ra, các sỹ quan của Hải quân Ukraine vẫn đến Crimea trong các kỳ nghỉ, bất chấp cảnh báo của Cơ quan An ninh Ukraine (SBU).

Chỉ huy của Hải quân Ukraine cũng không thể ngăn chặn tình trạng này và trong thời gian qua đã có tổng cộng 155 sỹ quan của Hải quân Ukraine đến Crimea nghỉ dưỡng.

“Hải quân Ukraine hiện chỉ có trong tưởng tượng của giới chính trị gia Ukraine. Lực lượng này hiện chỉ tồn tại trên giấy và các hoạt động chiến thuật khác nhau cũng chỉ tồn tại trên giấy tờ”- Sergey Menhiailo nhận định trên Ria Novosti.

Theo Sergey Menhiailo, những gì đang diễn ra với Hải quân Ukraine hiện nay giống hệt tình trạng của những năm 1990, khi Liên Xô tan rã.

“Theo thỏa thuận phân chia Hạm đội Biển Đen, phía Ukraine khi đó được chia cho một số tàu chiến đã được sửa chữa nhưng hiện tình trạng kỹ thuật của số tàu này hết sức tồi tệ.

Chính quyền Ukraine hiện không biết phải làm gì với lực lượng thủy thủ của các tàu chiến và hiện số thủy thủ này nhiều hơn vài lần so với số phương tiện kỹ thuật Hải quân Ukraine đang sở hữu”- tỉnh trưởng Sevastopol nhấn mạnh.

Hải quân Ukraine chỉ “tồn tại trên giấy”
Hải quân Ukraine chỉ “tồn tại trên giấy”

Chính quyền Ukraine hiện không biết cần phải làm gì với lực lượng thủy thủ của các tàu chiến, còn trang bị của lực lượng hải quân Ukraine hiện đang trong tình trạng hết sức tồi tệ.

Hải quân Ukraine hiện vẫn đang tồn tại nhưng là “tồn tại trên giấy”.

Tuyên bố trên do Tỉnh trưởng Sevastopol Sergey Menhiailo, phó đô đốc dự bị và là cựu Phó Tư lệnh Hạm đội Biển Đen của Nga đưa ra.

Theo đó, lực lượng hạm đội Ukraine hiện nay chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của các chính trị gia Kiev. Chức năng và các hoạt động chiến thuật của lực lượng này hiện chỉ “tồn tại trên giấy”.

Trước tuyên bố này của tỉnh trưởng Sevastopol cũng đã có nhiều thông tin cho thấy tình trạng của lực lượng Hải quân Ukraine đang hết sức báo động.

Cụ thể, trong năm 2015, tổng cộng đã có 559 sỹ quan và binh sỹ từ bỏ hàng ngũ Hải quân Ukraine và chỉ có 122 người trong số này được tìm thấy, số còn lại chỉ hủy Hải quân Ukraine không công bố thông tin.

Ngoài ra, các sỹ quan của Hải quân Ukraine vẫn đến Crimea trong các kỳ nghỉ, bất chấp cảnh báo của Cơ quan An ninh Ukraine (SBU).

Chỉ huy của Hải quân Ukraine cũng không thể ngăn chặn tình trạng này và trong thời gian qua đã có tổng cộng 155 sỹ quan của Hải quân Ukraine đến Crimea nghỉ dưỡng.

“Hải quân Ukraine hiện chỉ có trong tưởng tượng của giới chính trị gia Ukraine. Lực lượng này hiện chỉ tồn tại trên giấy và các hoạt động chiến thuật khác nhau cũng chỉ tồn tại trên giấy tờ”- Sergey Menhiailo nhận định trên Ria Novosti.

Theo Sergey Menhiailo, những gì đang diễn ra với Hải quân Ukraine hiện nay giống hệt tình trạng của những năm 1990, khi Liên Xô tan rã.

“Theo thỏa thuận phân chia Hạm đội Biển Đen, phía Ukraine khi đó được chia cho một số tàu chiến đã được sửa chữa nhưng hiện tình trạng kỹ thuật của số tàu này hết sức tồi tệ.

Chính quyền Ukraine hiện không biết phải làm gì với lực lượng thủy thủ của các tàu chiến và hiện số thủy thủ này nhiều hơn vài lần so với số phương tiện kỹ thuật Hải quân Ukraine đang sở hữu”- tỉnh trưởng Sevastopol nhấn mạnh.

Category 5

Category 6

Category 7

 
Copyright © 2014 Tin Nhanh Trên Mạng